Quảng Ngãi

Vẻ đẹp Quảng Ngãi
(Cinet)- Quảng Ngãi là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định).
Khái quát chung
Diện tích: 5.136,88 km2.
Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía tây giáp các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía đông giáp biển.
Dân số: 1.217.159 người (năm 2009).
Dân tộc: Việt, Hrê, Co, Xơ-đăng.
Đơn vị hành chính: 1 thành phố (TP Quảng Ngãi), 13 huyện.
Tài nguyên văn hóa
Di sản văn hóa
Quảng Ngãi là tỉnh có bề dày về lịch sử văn hóa và truyền thống cách mạng. Tính đến năm 2013, toàn tỉnh đã công nhận xếp hạng 28 di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia và 76 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp tỉnh; 95 di tích tích có quyết định công nhận bảo vệ.
Quảng Ngãi là quê hương của văn hóa Sa Huỳnh, nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng của Việt Nam, được thế giới biết đến hàng trăm năm qua. Vùng đất này cũng giàu di sản văn hóa Champa với các đền tháp, thành quách, làng mạc cư trú.
Các di sản văn hóa Việt với các thành quách, đình chùa, đền miếu, lăng thờ cá Ông cùng hàng trăm lễ hội diễn ra, nổi bật với lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, lễ hội điện Trường Bà, lễ tế đình, tế cá Ông, lễ cầu ngư, hát bả trạo, hát sắc bùa, các làng nghề thủ công truyền thống... Ở miền núi các dân tộc Cor, Cadong, Hrê vẫn còn giữ được lễ hiến sinh trâu, lễ ngã rạ, lễ mừng lúa mới, múa chiêng, múa cà đáu, hát kalêu, kachoi, ra nghế, xà ru, a giới… rất đặc trưng của cư dân vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.
Lễ khao Lề thề tế lính Hoàng Sa

Di sản văn hóa vật thể bao gồm các di tích lịch sử văn hóa với các loại hình di tích lịch sử (lịch sử truyền thống, cách mạng kháng chiến, lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật (đình, chùa, đền, thành lũy, nhà cổ), di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh.
Nghệ thuật biểu diễn
Các loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Quảng Ngãi vô cùng phong phú.
Nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Việt: Bao gồm các loại: hò (hò trên cạn và hò trên sông, nước); lý; hát (Nếu nhìn dưới góc độ nội dung thể hiện thì có các loại hát: hát nhân ngãi, hát huê tình... Nếu theo chức năng thì có hát ru, hát khóc (nay không còn), hát mừng tuổi (dùng trong hát sắc bùa)... Nếu theo mục đích diễn xướng thì có hát sắc bùa, hát bả trạo... Nếu theo phương thức diễn xướng thì có hát ống, hát lô tô, hát bài chòi...)
Bên cạnh đó, còn có loại hình diễn xướng dân gian của các dân tộc khác như: Hrê, Co, Xơ-đăng.
Nhạc cụ của người Việt ở Quảng Ngãi khá đa dạng về chủng loại, như đàn cò (nhị), trống cơm (phạn cổ), kèn tiểu (tiểu quân), đàn bầu (độc huyền cầm), đàn tranh (đàn thập lục), trống tiểu, sênh, phách, sinh tiền, chập chõa, bồng bồng... Các loại nhạc cụ này được sử dụng trong các môi trường diễn xướng khác nhau, như hát bài chòi, hát sắc bùa, hát bả trạo, hát đám tang...
Những giai điệu thường được sử dụng là Kim tiền, Bình bản, Xàng xê, Xuân nữ, Nam ai.
Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam còn nổi tiếng với nghệ thuật tạo hình của người Sa Huỳnh cổ; của người Chăm, của người Việt và nghệ thuật tạo hình của các dân tộc Hrê, Co, Xơ-đăng.
Điểm đến
Quảng Ngãi là vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá lâu đời như khu du lịch văn hoá Sa Huỳnh, dấu vết văn hoá cổ xưa như thành cổ Châu Sa, Gò Vàng…, có di tích lịch sử Ba Tơ, Sơn Mỹ, Ba Gia, Trà Bồng, Vạn Tường; nhiều cảnh đẹp như Thiên Ấn, Niêm Hà, Thiên Bút, Phê Vân, Thạch Bích, Tà Dương, Cổ Luỹ, Cô Thôn, Nước Trong – Ca Đam…, nhiều bãi biển như Mỹ Khê, Sa Huỳnh…, những tiềm năng trên là điều kiện để phát triển du lịch nghỉ dưỡng với nhiều loại hình, sản phẩm du lịch đa dạng.
Cá Bống sông Trà

Một nét hấp dẫn khác của Quảng Ngãi là những món ăn không giống bất cứ ở vùng nào trên cả nước, đó là cá Bống sông Trà, chim mía, kẹo gương, mạch nha, đường phổi và món Don…; những lễ hội cầu ngư, đua thuyền của ngư dân vùng biển, những phong tục độc đáo của dân tộc H’rê, Cor, Cadong  mang đậm sắc thái của Quảng Ngãi…
CN
 (Ảnh minh họa. Nguồn Internet)