Hành trình Di sản: Thành nhà Hồ - Điểm đến hấp dẫn của Thanh Hóa

Thành nhà Hồ - Di sản văn hóa thế giới - Điểm đến hấp dẫn
khi đến với Thanh Hóa
(Cinet) – Là một trong bảy Di sản văn hóa thiên nhiên thế giới được Unesco công nhận, Thành nhà Hồ là điểm đến hấp dẫn của Việt Nam nằm trên địa phận tỉnh Thanh Hóa.
Cách Hà Nội khoảng hơn 3 tiếng nếu đi bằng xe ô tô, Thành nhà Hồ là một trong những điểm đến không thể thiếu trên tuyến du lịch tới miền Trung. Được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1962 nhưng di sản này thực sự không được nhiều người biết đến cho đến tháng 6 năm 2011 sau khi Unesco vinh danh, di sản mới tỏa sáng đúng với giá trị vốn có. 
Nằm trên mảnh đất Vĩnh Lộc thuộc tỉnh Thanh Hóa, Thành nhà Hồ còn được biết đến với những tên gọi khác như thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh…vốn là kinh đô nước Đại Ngu. Đây là tòa thành có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam và là một trong rất ít những công trình kiến trúc bằng đá còn lại trên thế giới. Điểm hấp dẫn các nhà sử học, các nhà nghiên cứu đó là thành nhà Hồ được xây dựng trong một khoảng thời gian rất ngắn từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397, nghĩa là chỉ khoảng 3 tháng. Trong vòng có 3 tháng ngắn ngủi, làm cách nào xây dựng nên một công trình kiến cố và hoành tráng như vậy là điều thắc mắc và gây sự tò mò cho không chỉ giới học giả cho đến tận ngày nay.
Sử sách ghi lại rằng, thành bắt đầu được xây dựng vào mùa xuân năm Đinh Sử theo chủ trương của Hồ Quý Ly. Thời điểm đó, Hồ Quý Ly giữ chức vụ Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự, cương vị Tể tướng, nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Trong vòng có 3 tháng khối lượng đất đá ước tính khoảng gần 100. 000 mét khối đất đá và hơn 20.000m2 đá đã được chuyển về đây để phục vụ việc xây dựng thành. Sau khi hoàn thành có chu vi 3,5 km, thành phía ngoài xây bằng đá, bên trong xây bằng đất đầm nện chắc, mở bốn cửa theo bôn hướng Nam, Bắc, Đông, Tây. Tường thành đá bên ngoài xây bằng những khối đá nặng trung bình 10-16 tấn, có khối nặng đến trên 26 tấn, được đẽo gọt khá vuông vắn và lắp ghép theo hình chữ công “X” tạo nên sự liên kết kiên cố. Đất đắp bên trong thoai thoải dần.
Sau hơn 6 thế kỷ tường thành đã bị bào mòn và có chỗ bị sạt lở, nhưng di tích còn lại đến nay vẫn dày khoảng 4-6m, chân thành rộng khoảng trên 20m. Bốn cửa thành xây theo kiểu vòm cuốn, bằng đá, riêng cửa Nam là cửa chính có ba cổng ra vào, dài trên 34m, cao hơn 10m. Hào bao quanh thành cho đến nay vẫn còn có đoạn rộng khoảng 10-20m và La thành bảo vệ vòng ngoài. Không chỉ có phần tường thành, khu di tích thành nhà Hồ còn có những di tích khác như La Thành, Đàn thờ Nam Giao, Đền thờ nàng Bình Khương, Chùa Giáng…
La Thanh là toàn bộ thành đá và hào quanh thành. La Thành hiện nay còn lại một tòa thành đất cao khoảng 6m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,20m, chân thành rộng khoảng 37m. Mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải kiểu bậc thang, mỗi bậc cao 1,50m, một số vị trí có trộn thêm sạn sỏi gia cố.
Bức tường thành phủ đầy rêu phong và những công trình kiến trúc tuy không còn nguyên vẹn những vẫn mang lại sự hấp dẫn cho du khách bởi chúng là lịch sử, là văn hóa thể hiện một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam...

Đàn tế Nam Giao nằm ở phía Nam kinh thành, đàn được xây dựng năm 1402 để làm nơi thực hiện các nghi lễ của kinh đô. Dấu tích kiến trúc đàn tế chạy theo hướng Bắc – Nam là 250m, hướng Đông – Tây là 150m với tổng diện tích 35.000m2. Đàn được chia làm nhiều tầng giật cấp cao dần lên, trong đó tầng đàn trung tâm cao 21,70m so với mực nước biển, chân đàn có độ cao khoảng 10,50m so với mực nước biển. Hiện nay, bước đầu đã khai quật được khoảng 15.000m2 và phát lộ được cấu trúc tổng thể của phần đàn trung tâm bao gồm 3 vòng tường đàn bao bọc lẫn nhau.
Chùa Giáng có tên chữ là Tường Vân tự, nằm cách trung tâm Thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Đông Nam. Chùa được xây dựng dưới chân núi Đốn Sơn vào thời vua Trần Duệ Tôn (1372 - 1377). Tổng thể kiến trúc chùa hiện khoảng 2ha, bao gồm các dãy nhà riêng biệt nằm trên 2 tầng thế đất khác nhau, đó là: Nhà Tứ Ân, nhà Phật điện, nhà Mẫu, nhà Điêu túc. Chùa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 2009.
Đền thờ nàng Bình Khương là nơi thờ nàng Bình Khương – vợ của Cống sinh Trần Công Sỹ, một trong những người chỉ huy xây dựng tường thành phía đông của thành Tây Đô. Đền có diện tích 600m2, kiến trúc gồm tiền đường và hậu cung. Hiện nay trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Phiến đá – kiêm thần vị thờ nàng Bình Khương, bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Vương Duy Trinh soạn ghi sự tích Bình Khương và Cống Sinh; bia đá dựng năm Thành Thái thứ 15 (1903) do Phan Hữu Nguyên soạn ghi nội dung ca tụng Bình Khương và bia trùng tu miếu Bình Khương dựng năm Bảo Đại thứ 5 (1930).
Bên cạnh những di tích chính kể trên, di sản thành nhà Hồ còn có những đi tích khác như: Đền thờ Trần Khắc Chân, Chùa Du An, Động Hồ Công, Đền Tam Tổng, Nhà cổ…
Tất cả các công trình kiến trúc lớn nhỏ này được bố trí sắp đặt tài tình tạo nên một quần thể thành nhà Hồ thống nhất với giá trị kiến trúc, lịch sử cao.
Nếu đã đến thăm quan thành nhà Hồ, chắn chắn các du khách đều thống nhất một điều đó là: Di sản, di tích này thực sự là điểm đến thú vị và rất đáng quan tâm bởi vẻ đẹp trong kiến trúc, bởi giá trị văn hóa, lịch sử chứ không phải chỉ vì danh hiệu Di sản văn hóa thế giới mặc dù chính danh hiệu này đã góp phần lớn đưa hình ảnh Thành nhà Hồ đến với đông đảo người dân.
Lan Hương
(Ảnh minh họa. Nguồn Internet)