HÀ TĨNH – Đền Đô Đài

(Cinet-DL)- Đền Đô Đài cũ nguyên xưa khá đồ sộ, có thượng, trung và hạ điện hướng đông nam. Nhưng trong hai cuộc chiến tranh, ngôi đền đã bị phá huỷ. Cho đến khi hoà bình lập lại, nhân dân sở tại tự nguyện đóng góp lập lại ngồi đến mới.
1. Tên di sản/Di tích: Đền Đô Đài
Tên khác: Đền Bùi Ngự Sử
2. Thời gian: Đền cũ nguyên xưa khá đồ sộ, có thượng, trung và hạ điện hướng đông nam. Nhưng trong hai cuộc chiến tranh, ngôi đền đã bị phá huỷ. Cho đến khi hoà bình lập lại, nhân dân sở tại tự nguyện đóng góp lập lại ngồi đến mới.
3. Năm công nhận: Năm 1992, Bộ Văn hóa đã xếp hạng đền Đô Đài là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
4. Vị trí/Địa hình: Đền Đô Đài thuộc xã Đậu Liêu, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Đền nằm cách thị trấn Hồng Lĩnh 3km về phía Nam, cách đường quốc lộ 1A về phía Đông 300m, ở chân núi Bạch Tỵ Sơn.
Địa hình tỉnh Hà Tĩnh chiếm hầu hết là đồi núi với 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối.
Có thể chia làm 4 dạng địa hình sau:
+ Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành một dãy hẹp nằm dọc theo biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000 m trở lên.
+ Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của tỉnh có độ cao dưới 1000 m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp.
+ Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phần diện tích nhỏ. Độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực.
+ Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển với có địa hình trung bình trên dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp.
Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ.
5. Thổ nhưỡng: Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 605.574 ha.
Có thể chia làm 5 nhóm chính bao gồm:
- Đất nông nghiệp 103.720 ha, chiếm 17,13%
 - Đất lâm nghiệp 231.100 ha, chiếm 38,16%
- Đất chuyên dùng 45.700 ha, chiếm 7,55%, đất ở 6.920 ha, chiếm 1,14%
- Đất chưa sử dụng còn khá nhiều: 218.134 ha, chiếm 36,02% diện tích đất tự nhiên.
Đất đai, thổ nhưỡng ở Hà Tĩnh chủ yếu thích hợp cho trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày.
6. Khí hậu: Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng. 
Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao.
Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm.
7. Dân cư: Theo niên giám thống kê Hà Tĩnh 2011, Hà Tĩnh có 1.229.197 người, giảm so với điều tra dân số năm 1999, do một bộ phận dân di cư chuyển đến các địa phương khác sinh sống mà chủ yếu là ở các tỉnh phía Nam.
Dân tộc chủ yếu sống tại Hà Tĩnh là người Kinh và một dân tộc thiểu số khác cùng nhóm với người Kinh là người Chứt, Thái, Mường, Lào sống ở các huyện: Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê với khoảng vài ngàn người sống ở miền núi.
8. Tóm tắt nội dung: 
8.1. Giá trị lịch sử:

Di tích Đền Đô Đài gắn liền với một nhân vật lịch sử trung thần Bùi Cầm Hổ.
Đây là nơi ông sinh ra và lớn lên, khi về hưu năm 1459, Bùi Cầm Hổ cũng sống và mất tại nơi này.
Bùi Cầm Hổ sinh năm 1380, tên của ông gắn với sự tích người họ Bùi bắt được hổ.
Bùi Cầm Hổ có nhiều công lao đóng góp cho đất nước trong thời kỳ đầu của nhà Hậu Lê. Ông được các sử gia phong kiến đánh giá cao, là một con người trung thực, thẳng thắn và công tâm Bùi Cầm Hổ được ba đời vua đầu của nhà Hậu Lê tin dùng, giao cho một số công việc hệ trọng. Ông đã hai lần đi sứ nhà Minh, đầu niên hiệu Thái Hòa thời Nhân Tông (1443;1459). Ông kiêm làm đồng trị Tây đạo trải thăng tham tri chính sự.
Trong tác phẩm “ Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, Bùi Cầm Hổ được xếp là một trong số 18 người có công lao tài đức của thời kỳ đầu Hậu Lê .
Trong cuộc đời của mình, từ lúc tại triều cho đến khi về hưu Bùi Cầm Hổ luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Tư tưởng trung quân của Bùi Cầm Hổ rất tiến bộ, ông không sợ rơi đầu khi cán gián nhà vua không làm những điều sai trái. Một tư tưởng thâu suốt cuộc đời của Bùi Cầm Hổ là luôn nghĩ về dân, bênh vực quyền lợi của người lao động. Đến lúc về hưu lòng vẫn mưu cầu hạnh phúc cho dân bằng một công trình thủy lợi Thanh Khê, biến vùng đất Kẻ Treo, Kiệt Thạch nghèo đói thành nơi trù phú nhất vùng.
Đánh giá công lao Bùi Cầm Hổ các triều đại phong kiến đã phong nhiều sắc cho ông là “Thượng đẳng Thần”. Để ghi nhớ công lao của Bùi Cầm Hổ sau khi ông mất (1483) nhân dân lập bàn thờ và tôn ông là bậc Thánh.
Đền Đô Đài ngoài ý nghĩa gắn liền với một nhân vật lịch sử nổi tiếng Bùi Cầm Hổ đây còn là di tích chứa đựng nội dung phong phú của thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh .
Đầu năm 1930 Ban chấp hành lâm thời của huyện ủy Can Lộc được thành lập. Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã cử đồng chí Thái về xây dựng cơ sở tại xã Đậu Liêu. Đồng chí Thái đã chọn đền Đô Đài làm nơi liên lạc, hội họp, vì đây là nơi vừa tiện đường giao thông, vừa đảm bảo bí mật.
Trung tuần tháng 7/1930 tại đền Đô Đài diễn ra cuộc Hội nghị thành lập Chi bộ Đảng. Từ lúc thành lập Chi bộ Đảng đền Đô Đài luôn là nơi chi bộ Đảng Đậu Liên tổ chức các cuộc hội họp, bàn biện pháp vận động nhân dân tham gia đấu tranh kỷ niệm ngày Quốc tế chống chiến tranh 1/8/1930, tiến hành cuộc biểu tình toàn huyện ngày 7/9/1930, kỷ niệm Cách mạng Tháng mười Nga 7/11/1930 và kỷ niệm cuộc bạo động Quảng Châu công xã 12/12/1930.
Kết quả các phong trào đấu tranh của quần chúng Đậu Liêu cùng với cả huyện Can Lộc đã buộc tên tri huyện Trần Mạnh Đàn phải cúi đầu chấp nhận các bản yêu sách của quần chúng, tịch thu giấy tờ, sổ sách, thiêu hủy huyện đường, buộc bọn cường hào trả lại ruộng đất, lúa tiền cho nhân dân.
Trong thời kỳ địch khủng bố, khi Tỉnh ủy Hà Tĩnh rút vào hoạt động bí mật tại dãy núi Hồng Lĩnh, ở hang Đá Bạc và hang Đá Đen để bảo toàn lực lượng, đền Đô Đài là nơi tổ chức móc nối, bắt liên lạc, khôi phục cơ sở Đảng. Thời kỳ 1940-1941, đền là nơi diễn ra Hội nghị thành lập Mặt trận Việt Minh tháng 10/1944 và nơi Mặt trận Việt Minh chỉ đạo giành chính quyền trong cách mạng Tháng Tám của tổng Đậu Liêu.
Đền Đô Đài nằm trong khu vực có nhiều di tích nổi tiếng, cách Đậu Liêu không xa là núi Ngọc Sơn nơi có đền thờ hai ông Trạng mà nhân dân địa phương còn gọi là Song Trạng Nguyên đó là: Trạng cha: Sử Hy Nhan ông đậu trạng nguyên khoa Quý mão 1363. Trạng con là Sử Đức Huy đậu trạng nguyên khoa Tân Dậu 1381. Gần đó còn có nhà thờ Hồ Bình Quốc đậu nhị giáp đồng chế khoa (1577). Ngoài ra còn có nhà thờ họ Phan, thờ Phan Cảo đậu Hoàng Giáp (1631).
8.2. Tổng quan kiến trúc:
Cho đến ngày nay, đền Đô Đài vẫn giữ được những nét cổ kính, phía trước là những bậc thềm đá rêu phong phủ kín. Ngoài cùng có hai cột nanh cao 2.5m, tiếp đó có hai nhà tả hữu chứa hai con voi chầu.
Bước hai bậc nữa ta thấy hai cột nanh sừng sững, mỗi cột cao 4m, trên hai đỉnh cột có hai con nghê chầu. Hai bên cửa có hai vị tướng cầm gươm hình dáng dữ tợn cao 1.8m.
Nhìn bao quát từ ngoài đền Đô Đài có kiến trúc hình “chữ Tam”, mái lợp ngói vảy, từ đó chúng ta mới thấy hết dáng vẻ đường bệ uy nghi cổ kính của đền.
Đi dọc theo sân ta bước vào nhà Bái đường, bước tiếp qua một khoảng sân lát gạch chúng ta vào Trung điện. Nhà có ba gian hai hồi, chiều dài 9,2m cao 3,97m rộng 6,24m . Nhà có 12 cột lim, cột lớn có chu vi 0,89m, cột nhỏ 0,67m. Trung điện có kiến trúc phức tạp hơn Hạ điện, văng và xà có hoa văn chạm trổ hình hoa lá, trang trí nội thất gồm có: 2 con hạc, có đao, bát xà mâu, giữa nhà có hai gương vuông chạm rồng phượng, phía trong có hương án chạm trổ tứ linh kỳ công và có giá trị nghệ thuật cao.
Qua một sân nhỏ lát gạch là vào nhà Thượng điện – là ngôi nhà gỗ lim 3 gian, 2 đốc, có 8 cột lớn chu vi cột lớn 0,97m, chiều dài thượng điện 7,29m, rộng 5,94m. Trang trí nội thất ở chính giữa đặt trang trọng Long Cung, Long Đình, Long Mai thờ bài vị, viết công đức thành tích của Bùi Cầm Hổ. Tất cả đều sơn son thiếp vàng trông cổ kính đẹp đẽ một cách trang trọng. Ngoài ra đền còn có 12 sắc phong của các triều đại phong kiến phong cho Bùi Ngự Sử, các trang phục, áo mũ, đai vòng…là hiện vật quý hiếm để chúng ta có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu về trang phục quan lại thời xưa.
Một số hình ảnh Đền Đô Đài (nguồn: sưu tầm internet)

Đăng Huy (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

http://www.vietnamtourism.com.vn/;  http://mobile.coviet.vn/;  http://btxvnt.org.vn; http://ditichlichsuvanhoa.com/;