HẢI DƯƠNG - Đền Kiếp Bạc

(Cinet-DL)- Đền được xây dựng ở trung tâm của thung lũng Kiếp Bạc, trên một khu đất có diện tích khoảng 13.5km2. Đền quay về hướng Tây Nam, nhìn ra sông Lục Đầu, gồm các hạng mục kiến trúc: trạm hạ mã, đường thần đạo, nghi môn, sân đền, tả hữu thành các, giếng mắt rồng, tắc môn, nhà giải vũ, đền chính.
1. Tên di sản/Di tích: Đền Kiếp Bạc.

2. Thời gian: Vào thế kỷ 13, khu vực đền Kiếp Bạc là nơi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.
Sang thế kỷ 14, đền thờ ông được xây dựng tại nơi đây và là nơi tổ chức các lễ hội hàng năm để dâng hương tưởng niệm vị anh hùng của dân tộc Việt, người có công lớn với đất nước và được dân gian tôn sùng là Đức Thánh Trần.
3. Năm công nhận: Năm 1962, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng chùa Côn Sơn là di tích quốc gia đợt I.
Năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng chùa Côn Sơn là di tích đặc biệt quan trọng.
4. Vị trí/Địa hình: Đền Kiếp Bạc thuộc địa phận hai thôn Dược Sơn và Vạn Kiếp, xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam Địa hình tỉnh Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng.
Ở phía bắc tỉnh là vùng đồi núi chiếm 11% diện tích tự nhiên bao gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn. Đây là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày.
Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.
5. Thổ nhưỡng: Các khoáng sản chính của tỉnh Hải Dương bao gồm:
- Đá vôi xi măng ở Kinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn.
- Cao lanh ở Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 400.000 tấn.
- Đất sét chịu lửa ở Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn.
- Bô xít ở Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn.
6. Khí hậu: Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông).
Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng hai - đầu tháng tư dương lịch) có hiện tượng mưa phùn và nồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa.
Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng mười hàng năm.
7. Dân cư: Dân số hơn 1.703.492  người (theo điều tra dân số năm 2009). Trong đó:
- Mật độ dân số trung bình: 1.044,26 người/km2.
-  Dân số thành thị: 324.930 người
-  Dân số nông thôn: 1.378.562 người
-  Nam: 833.459 người
-  Nữ: 870.033 người
8. Tóm tắt nội dung: 
8.1. Tổng quan khu di tích:

Đền Kiếp Bạc: tức đền thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo vương từ), còn được biết đến với các tên gọi khác, như đền Kiếp, đền Vạn Kiếp, đền Trần Hưng Đạo.
Đền được xây dựng ở trung tâm của thung lũng Kiếp Bạc, trên một khu đất có diện tích khoảng 13.5km2. Đền quay về hướng Tây Nam, nhìn ra sông Lục Đầu, gồm các hạng mục kiến trúc: trạm hạ mã, đường thần đạo, nghi môn, sân đền, tả hữu thành các, giếng mắt rồng, tắc môn, nhà giải vũ, đền chính.
Đền chính được dựng theo dạng “tiền nhất, hậu đinh”, gồm tiền tế, trung từ và hậu cung.
- Sinh từ: cách đền Kiếp Bạc 800m về phía Đông Bắc. Để ghi nhớ công lao to lớn của Hưng Đạo vương, vua Trần Nhân Tông đã cho xây dựng đền thờ ngay khi Hưng Đạo vương còn sống, nên được gọi là Sinh từ. Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã đích thân viết văn bia ca ngợi công lao của Hưng Đạo Vương. Đến nay, Sinh từ chỉ còn lại phế tích.
- Đền Nam Tào: thờ quan Nam Tào, cách đền Kiếp Bạc 500m về phía Tây Nam, thuộc thôn Dược Sơn. Kiến trúc này được xây dựng trên một không gian thoáng, với diện tích trên 2km2, gồm các thành phần kiến trúc: trụ biểu, tam quan, gác chuông, gác trống, tả hữu hành lang, đền chính và hậu đường.
- Đền Bắc Đẩu: thờ quan Bắc Đẩu, được xây dựng trên đỉnh núi Bắc Đẩu, trong một không gian thoáng rộng, gồm các hạng mục: nghi môn, gác chuông, gác trống, tả hữu hành lang, đền chính, hậu đường và một số công trình phụ trợ khác…
- Vườn Dược Sơn: tức Dược lĩnh cổ viên. Tương truyền, đây là vườn thuốc Nam, do Trần Hưng Đạo trồng trên núi Dược Sơn, nay thuộc thôn Dược Sơn, xã Hưng Đạo.
Núi Dược Sơn nằm ở phía Nam của đền Kiếp Bạc, với diện tích trồng thuốc Nam khoảng 10 km².
- Ao Cháo: nằm ở phía dưới chân núi Trán Rồng, thuộc địa phận thôn Bắc Đẩu. Tương truyền, Trần Hưng Đạo đã tập trung quân sỹ để đào ao, đón nước từ hố Máng nước để nấu cháo dưỡng thương cho binh lính. Hiện nay, nơi này chỉ còn lại phế tích.
- Sông Vang - Xưởng Thuyền: là di tích nằm trên cánh đồng Vạn Yên, cách đền Kiếp Bạc 1km về phía Bắc. Tương truyền, Trần Hưng Đạo đã cho quân sỹ đào sông Vang ở trung tâm đại bản doanh, để làm đường thủy trong khu vực nội địa của Thái ấp Vạn Kiếp. Tại sông Vang, Trần Hưng Đạo đã cho xây dựng Xưởng Thuyền để đóng, sửa chữa và cất giấu thuyền chiến. Hiện nay, hai di tích này chỉ còn dấu vết khá mờ nhạt.
- Hang Tiền: nằm dưới chân núi Bắc Đẩu, cách đền Kiếp Bạc 500m về phía Bắc. Tương truyền, đây là nơi cất dấu ngân khố của Phủ đệ Trần Hưng Đạo để phục vụ kháng chiến. Hang Tiền rộng khoảng 1ha. Tại khu vực này còn dấu tích các vòm hầm đào vào núi, cao 1,5m, rộng 1,3m.
Hố Thóc: cách đền Kiếp Bạc 2km về phía Đông Nam. Tương truyền, địa điểm này từng là nơi cất giữ lương thảo. Hiện nay, di tích đã bị hư hại, chỉ còn lại phế tích.
- Viên Lăng: nằm trên gò đất nhỏ, hình tròn, cách đền Kiếp Bạc khoảng 300m về phía Đông Nam. Tương truyền, Trần Hưng Đạo được an táng ở đây.
- Núi Trán Rồng: nằm ở phía sau đền Kiếp Bạc. Trên sườn núi có nhiều di tích, di chỉ khảo cổ thời Trần...
- Sông Lục Đầu - Cồn Kiếm: là nơi đã diễn ra trận Vạn Kiếp lịch sử (năm 1285), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt của quân Nguyên - Mông lần thứ 2. Sông Lục Đầu có vị trí chiến lược rất quan trọng. Tại đây, Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông đã tổ chức Hội nghị Bình Than. Trên sông Lục Đầu, trước cửa đền Kiếp Bạc có một cồn cát chạy dài, gọi là Cồn Kiếm. Tương truyền, đây là nơi Trần Hưng Đạo thả kiếm xuống sông khi đất nước thái bình.
Một số hình ảnh Đền Kiếp Bạc (nguồn: sưu tầm internet)

Đăng Huy (Tổng Hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

http://www.dsvh.gov.vn/ ; dulichhaiduong.vn; hanoi.vietnamplus.vn