QUẢNG NGÃI - Chùa Ông

Chùa Ông (nguồn internet)
(Cinet - DL) - Chùa Ông (Quan Thánh Tự) là một trong nhiều chùa ở Thu Xà xưa - một thương cảng nổi tiếng của Quảng Ngãi, nơi cộng cư giữa cộng đồng Hoa - Việt
1. Di sản/Di tích: Chùa Ông
2. Thời gian: Chùa xây dựng năm 1821.
3. Năm công nhận: Ngày 7/1/1993 Bộ VHTT - DL quyết định số 43 VH/QĐ công nhận Chùa Ông là di tích quốc gia.  
4. Địa hình/Vị trí:  Chùa Ông tọa lạc ở thị tứ Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
 Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải miền Trung, Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài 129km. Địa hình phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông chia làm 4 vùng:
- Vùng bờ biển và ven biển (chiếm 1,6%) gồm các cồn cát, mũi đất, cửa sông, đầm nước mặn, đụn cát tạo thành một dải hẹp có chiều rộng  2 - 3km.
- Vùng đồng bằng (chiếm 24,4%) tiếp giáp với vùng ven biển, ở độ cao < 30m. Đồng bằng bị phân cách bởi các sông, đồi núi xen kẽ, vừa thể hiện tính chất của đồng bằng phù sa và đồng bằng gò đồi.
- Vùng đồi (chiếm 18%) là dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, độ cao 30 - 300m. Độ dốc tương đối lớn, lớp phủ thực vật kém, khả năng xói mòn cao.
- Vùng núi cao trung bình (chiếm 56%) nằm ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh. Độ cao từ 300 - 1.800m. Địa hình phân cách mạnh, độ dốc lớn, quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh.
5. Thổ nhưỡng: Chia làm 9 nhóm chính:
- Nhóm đất cát biển: Diện tích 6.290,00ha (chiếm 1,22%). Thành phần cơ giới cát mịn và cát thô; chất hữu cơ, lân, kali nghèo.
- Nhóm đất mặn: Diện tích 1.573,1ha (chiếm 0,30%). Thành phần cơ giới đất cát pha thịt; hàm lượng mùn khá; chất hữu cơ trung bình; lân, kali tổng số nghèo; đất mặn (EC > 0,5mS/cm).
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 96.157,50 ha (chiếm 18,66%). Thành phần cơ giới đất cát pha, thịt pha cát, thịt pha sét và cát; chất hữu cơ trung bình; lân, kali tổng số nghèo.
- Nhóm đất Glây: Diện tích 2.052,40 ha (chiếm 0,4%).  Phân bố ở địa hình trũng vùng đồng bằng, thành phần cơ giới đất cát pha, thịt pha cát, thịt pha sét và cát; chất hữu cơ giàu; lân, kali nghèo.
- Nhóm đất xám: Diện tích 376.547,20 ha (chiếm 73,07%). Phân bố ở đồng bằng, vùng núi cao, thành phần cơ giới đất cát, cát pha; chất hữu cơ trung bình, lân, kali nghèo
-Nhóm đất đỏ: Diện tích 8.142,40 ha (chiếm 1,58%). Thành phần cơ giới đất thịt pha cát, thịt pha sét và cát, sét pha thịt; chất hữu cơ trung bình khá; lân tổng số giàu; kali trung bình.
- Nhóm đất đen: Diện tích 2.328,40 ha chiếm 0,45%.
- Nhóm đất nứt nẻ: Diện tích 634,0 ha (chiếm 0,12%). Phân bố ở huyện Bình Sơn, thành phần cơ giới đất sét mịn; chất hữu cơ giàu; lân, kali nghèo.
- Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Diện tích 9.696,00 ha (chiếm 1,88%). Thành phần cơ giới đất cát pha, thịt pha cát; chất hữu cơ trung bình; lân, kali nghèo.
6. Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
- Nhiệt độ trung bình 25-26,9°C, nhiệt độ cao nhất 410C (tháng 4 - 7), thấp nhất 12,40C (tháng 12,1). Số giờ nắng trung bình là 2.131giờ/năm. Tháng 3 - 8 có số giờ nắng cao nhất, trung bình từ 177 - 230giờ/tháng. Thời kỳ ít nắng (tháng 9 - 2 năm sau) trung bình 100 -125 giờ/tháng
- Lượng mưa trung bình năm đạt 2.504mm. Mưa nhiều (tháng 9 - 12) chiếm 65 - 70%, tháng 1 - 8 chiếm 30 - 35%. Mưa lớn gây lũ lụt và phân bố lượng nước không đều trong năm.
- Độ ẩm tương đối trung bình đạt 84,3%. Mùa khô độ ẩm thấp, lượng bốc hơi lớn bình quân 923 mm. Mùa mưa độ ẩm cao, lượng bốc hơi thấp chiếm 10 - 20%
- Hướng gió chính là hướng Đông - Bắc và Đông - Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,8 m/s, tháng 5 - 11 vận tốc gió cực đại từ 20 - 40 m/s.
- Bão (tháng 9 - 11) hướng đi Đông - Tây và Đông Nam - Tây Bắc. Trung bình hàng năm có 1,04 cơn bão trực tiếp và có 3,24 cơn bão đến Quảng Ngãi.
7. Dân cư: Năm 2010 dân số trung bình là 1.218.621 người, mật độ 236 người/km2, phân bố không đồng đều giữa các vùng.
Đồng bằng: 999.167 người, mật độ 526 người/km2.
Miền núi: 201.204người, mật độ 62 người/km2.
Hải đảo: 18.250 người, mật độ 1.767 người/km2.
Năm 2013 dân số trung bình là 1.236.250 người. Thành thị chiếm 14,62% và nông thôn chiếm85,38%. 
Dân số phân theo giới tính: nữ chiếm 50,7%, nam chiếm 49,3%.
Dân số phân theo độ tuổi: Từ 0-59 tuổi chiếm 88,51%, dưới 15 tuổi chiếm 25,55%
8. Tóm tắt nội dung:
8.1. Ngoại thất:
Chùa có tổng diện tích 2.730m 2 gồm vườn chùa, tam quan, sân chùa và chùa. Được bao bọc bởi vòng 1, thành cao 1,2m, dày 0,5m theo kiểu chấn song con tiện.
Chùa quay mặt về hướng đông. Từ ngoài vào, công trình kiến trúc chùa nằm trên một trục đạo gồm:
Cổng tam quan: Cấu trúc một gian, bốn cột, hai bộ vì, theo lối tam hoành. Hoành thứ 3 uốn cong hình thuyền, đầu rồng đuôi phượng. Các hoành liên kết với nhau qua các vì chồng và gác qua đầu cột. Mái tam quan lợp ngói, đỉnh mái uốn cong dáng thuyền, trang trí hình rồng, đuôi phủ dây leo thực vật. Bờ mái trang trí dạng ô hộc với năm ô trang trí. Hai bên cổng tam quan là miếu thờ bà Thiên Hậu. Phía sau chùa là miếu thờ Tiêu Diện Đại Sỹ.
Bình phong cao 2m, bằng tam hợp chất, mặt trước đắp nổi hình mãnh hổ, mặt sau đắp nổi hình con ly trên cụm mái. Hai bên bình phong là hai trụ biểu. Lầu chuông, lầu trống xây dựng đăng đối qua trục đạo.
8.2. Nội thất:
Chùa Ông là sự kết hợp các yếu tố kiến trúc của người Việt và người Hoa. Kiến trúc chùa theo kiểu chữ tam gồm ba nhà liên kết nhau: tiền đường, chánh điện và hậu cung.
Tiền đường: Trên đỉnh bờ mái đắp nổi 3 chữ Hán “Quan Thánh Tự”. Mặt trước có 3 cửa lớn và 2 cửa vòm nhỏ. Nhà có 18 cột chia làm ba gian, hai chái. Khung nhà gồm 4 bộ vì kèo vỏ cua kiểu chồng rường giả thủ.
Vách tiền đường có hệ thống cửa bàn khoa, một kiểu cửa gỗ chấn song thấp. Hai bên cửa, các liên ba đố bảng được trang trí theo 3 chủ đề : bát bửu, tứ linh và dây leo thực vật. Phần giữa trang trí lưỡng long tranh châu, bên dưới gắn bức hoành phi bằng gỗ.
Chánh điện: Gồm 12 cột và chia làm 3 gian: Gian thờ Quan Công ở giữa, có 4 cột to, cao. Đầu cột nâng bộ vì kèo chồng rường chày cối, gắn “cánh dơi” ở đầu trụ chồng. Đế trụ hình khối, chạm nổi.
Vách gỗ sau chánh điện trang trí ô hộc. Giữa vách là khám thờ Quan Công. Khám thờ cao hơn 2m, bằng gỗ, sơn son thếp vàng, khắc chạm mô típ lưỡng long tranh châu ở đỉnh, hai bên chạm lộng mô típ cành mai - hoa cúc, đầu rồng - đuôi dây leo. Hai đầu vách là hai cánh cửa nhỏ thông qua hậu cung
Hậu cung : Mặt tiền hướng về phía tây, có gắn ba chữ Quang Minh tự.
Nhà có 3 gian, bộ khung có 8 cột vuông, chống đỡ 4 vì trính chuyền xuyên suốt lòng nhà. Trính chuyền gác lên đầu cột và vách, đỡ bộ vì kèo cánh ác nhờ hai cột trốn.
Gian chính thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát và Chuẩn Đề Bồ Tát, giữa có bức họa Đạt Ma tổ sư qua sông. Hai gian phụ hai bên thờ cụm tượng Thiên Hậu và Kim Đẩu. Các tượng thờ làm bằng đồng, gỗ hoặc đất nung, chế tác công phu, biểu cảm, nhiều kích cỡ khác nhau.
Chùa có 6 văn bia chữ Nho chia làm 2 loại: loại có niên hiệu Thành Thái thứ 7 (năm 1895) và văn bia niên hiệu Khải Định Canh Thân (năm 1920) là các năm trùng tu chùa.
Chùa Ông (Thu Xà)  không chỉ là địa điểm tham quan mà còn là một trong những điểm tâm linh của tỉnh Quảng Ngãi, nhất là trong dịp tết Nguyên đán, tết Đoan ngọ, lễ Phật đản, lễ Vu lan báo hiếu, các ngày sóc vọng.
Chùa Ông (nguồn internet)
Lê Huyền (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo:

www.academia.edu/.../BAO_CAO_TMTH_QHSDD_TINH_QUANG_N
www.quangngai.gov.vn/.../qnp-dacdiemdansovanguon-qnpnd-612-qnp
www.chinhphu.vn/.../cactinhvathanhpho/tinhquangngai/thongtintinhthan.
mobile.coviet.vn/detail.aspx?key=Quảng+Ngãi&type=A0
baoquangngai.vn/channel/2047/.../di-tich-Chua-ong-o-Thu-Xa-2174649