QUẢNG TRỊ - Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương

Cột cờ Bắc Hiền Lương (nguồn internet)
(Cinet - DL) - Ðôi bờ Hiền Lương – Bến Hải là tên gọi cho một cụm di tích ở hai bên bờ sông Bến Hải tại khu vực cầu Hiền Lương.
1. Di sản/Di tích: Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương.
2. Thời gian: Năm 1954 Hiệp định Geneve ký kết lấy vĩ tuyến 17 sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự.
3. Năm công nhận: Ngày 12/12/1986, Bộ VHTT Quyết định số 235/VH-QÐ công nhận Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương là di tích quốc gia.
Ngày 09/12/2013, Thủ tướng Chính phủ Quyết định số 2383/QĐ-TTg công nhận Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương là di tích quốc gia đặc biệt.
4. Địa hình/Vị trí: Cụm di tích này nằm ở điểm giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A và sông Bến Hải; phía Bắc thuộc thôn Hiền Lương, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh; phía Nam thuộc thôn Xuân Hòa, xã Trung Hải, huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị.
Quảng trị là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình. Phía đông giáp biển Đông. Phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế. Phía tây giáp với tỉnh Savanakhet của Lào.
Quảng Trị có địa hình hẹp, dốc nghiêng từ Tây sang Đông. Địa hình chia thành 4 dạng:
- Địa hình có đồi núi cao (chiếm 81%), độ dốc 20-300, độ cao từ 250-2000m. Địa hình phân cắt mạnh, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh, tập trung ở phía Tây Bắc.
- Địa hình gò đồi và núi thấp có độ cao dưới 900m, tạo nên các dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình, tập trung ở hai phía tả ngạn và hữu ngạn sông Đa Krông, phía Ðông núi Voi Mẹp.
- Địa hình đồng bằng (chiếm 11,5%) được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30m.
- Địa hình ven biển (chiếm 7,5%) chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển, một số phân hóa thành các bồn trũng cục bộ, các cồn cát khô hạn.
5. Thổ nhưỡng: Quảng trị có diện tích đất tự nhiên 474.577ha, gồm 3 nhóm cơ bản:
- Nhóm cồn cát và đất cát ven biển: cồn cát trắng (chiếm 6,23%) kéo dài từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng và đất cát ven biển (chiếm 1,3%) phân bố rải rác dọc ven biển.
- Nhóm đất phù sa (chiếm 2%) do các sông bồi đắp.
- Nhóm đất đỏ vàng (Bazan) phân bố ở vùng núi và gò đồi trung du. Đất có tầng dày tơi xốp, độ mùn thích hợp.
6. Khí hậu: Quảng Trị nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới: gió Tây Nam khô nóng về mùa hạ, gió Đông Bắc ẩm ướt về mùa đông.
- Nhiệt độ: Vùng đồng bằng nhiệt độ 240-250C, ở độ cao > 500m nhiệt độ 220-230C. Mùa lạnh nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất < 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên 500m. Mùa nóng (tháng 5-8) nhiệt độ trung bình 280C. Tháng 6, 7 nóng nhất, nhiệt độ 400-420C.
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2.200-2.500mm/năm; dao động 154-190 ngày/năm. Lượng mưa đồng bằng: 2.300-2.700mm, miền núi là 1.800-2.000mm. Chế độ mưa biến động theo các mùa, năm. Tháng 2 - 6 mưa ít, tháng 9 -11 mưa nhiều (chiếm 70 - 80%).
- Độ ẩm tương đối trung bình khoảng 83-88%. Tháng 4 có độ ẩm thấp nhất 22%, mùa mưa độ ẩm trên 85%.
- Nắng trung bình 5-6 giờ/ngày, phân hóa theo thời gian và không gian: miền Đông có tổng số giờ nắng lên tới 1.910 giờ, miền Tây đạt 1.840 giờ. Tháng 5 - 8 có số giờ nắng cao trên 200 giờ.
- Gió: Có hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và Đông Bắc. Gió Tây Nam khô nóng (tháng 3-9), nắng gay gắt nhất (tháng 4- 8), nhiệt độ cao 400-420, trung bình có khoảng 45 ngày/năm.
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Mùa bão diễn ra từ tháng 7 - 11, trong đó tháng 9-10 nhiều bão nhất,  tỷ lệ mưa do bão và áp thấp nhiệt đới gây ra chiếm 40-50% . Lượng mưa do một cơn bão gây ra khoảng 300–400mm, có khi lên tới 1.000mm
7. Dân cư: Năm 2010 dân số trung bình là 601672 người. Mật độ: 126,7 người/km2,
- Dân cư phân bố không đều thành thị có 170.073 người (chiếm 28,31%). Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm, năm 2007 là 1,05%, năm 2010 là 1,12%; dân số cơ học tăng thấp. Bình quân trung bình tăng khoảng 5000 - 6000 người/năm.
- Dân số phân theo giới tính: nữ chiếm 50,3%, nam chiếm 49,7%; dân số phân theo độ tuổi: từ 0-59 tuổi (chiếm 90,9%),  dân số dưới 15 tuổi (chiếm 37,9%).
8. Tóm tắt nội dung:
Giá trị nổi bật:
- Cầu Hiền Lương đã trở thành chứng tích lịch sử trong 20 năm chia cắt hai miền Nam. Cầu được xây dựng năm 1928 do phủ Vĩnh Linh (cũ) huy động dân trong vùng đóng góp công sức. Cầu làm bằng gỗ, đóng cọc sắt, rộng 2m, ban đầu chỉ cho nhân dân đi bộ qua lại giữa hai bờ sông Bến Hải. Sau được thực dân Pháp nâng cấp, sửa chữa phục vụ mục đích quân sự, xe cơ giới đã có thể qua lại được cầu. Cầu xây bằng cốt thép, dài 162m, rộng 3,6m, trọng tải 10 tấn.
Tháng 5/1952, Pháp cho xây lại cầu Hiền Lương với chiều dài 178m, có 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép, thân cầu bằng thép, mặt cầu lát gỗ thông, rộng 4m. Hai bên có thành chắn cao 1,2m, tải trọng 18 tấn. Năm 1967 thì bị bom Mỹ đánh sập.
 Sau khi  ký hiệp định Geneve, sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 làm giới tuyến, thành hai vùng tập trung quân sự: Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rút về miền Bắc, quân đội Liên hiệp Pháp rút về miền Nam. Sông Bến Hải là nơi chia cắt hai miền đất nước  đến năm 1975.
Từ khi sông Bến Hải thành giới tuyến, cầu Hiền Lương cũng bị chia đôi.  Cầu chia làm hai phần (mỗi bên dài 89m) sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc gồm 450 tấm ván mặt cầu, bờ Nam 444 tấm. Giữa cầu được vạch một đường chỉ ngang, sơn trắng, rộng 1cm, làm ranh giới hai miền. Tại đây, đã diễn ra “cuộc chiến màu sơn cầu” kéo dài 5 năm. Cuối cùng nhân dân ta giành chiến thắng với màu sơn cầu là màu xanh.
- Cột cờ Hiền Lương: Ở bờ bắc cột cờ đầu tiên được dựng (10/8/1954), cột cờ làm bằng gỗ, cao 12m, trên đỉnh treo lá cờ bằng vải sa tanh đỏ rộng 24m 2.
Ở bờ Nam, địch cắm lá cờ tam tài của Pháp và chính quyền Bảo Đại lên nóc lô cốt Xuân Hòa cao 15m.  Sau đó, ta nâng cột cờ lên 18m, lá cờ rộng 32m2. Địch xây cột cờ cao 25m, lá cờ rộng 96m2, ta xây cột cao 32m, lá cờ rộng 108m2, trên đỉnh gắn ngôi sao bằng đồng có đường kính 1.2m, năm đỉnh gắn 15 bóng điện loại 500W. Sau đó địch lại xây cột cờ cao 35m, ta lại xây cột cờ bằng thép cao 38.6m, lá cờ rộng 134m2. Hai cột cờ, một cao một thấp, biểu tượng cho hai chế độ cùng tồn tại song song trên giới tuyến. Ngày 2/8/1967, khi Mỹ huy động pháo binh, không quân, hải quân phối hợp đánh gãy cột cờ ta. Ngay  đêm đó, ta đặt bộc phá tiêu hủy cột cờ ở bờ Nam.
- Đồn Công an Hiền Lương nằm ở phía Bắc cầu Hiền Lương, đồn gồm 3 khu nhà: A,B và C tạo thành hình chữ V, ở giữa là cột cờ Hiền Lương. Đồn có 2 tiểu đội, gồm 24 người, được trang bị súng ngắn và tiểu liên AK.
Khu nhà A (nhà liên hiệp) được xây dựng năm 1955, kiến trúc nhà sàn 4 mái, bộ khung bằng thép, nền lát gỗ, mái lợp ngói, có hệ thống cửa kính bao quanh, kích thước nhà 12m x 6m. Đây là nơi đặt trụ sở chỉ huy, giao ban, nơi tiếp các đoàn khách.
Khu nhà B có kích thước 10 x 5m được làm bằng gỗ, mái lợp tranh, vách trát toóc xi, dùng làm nơi sinh hoạt và họp nội bộ.
Khu nhà C có kích thước 12 x 4m, dùng làm kho hậu cần, nhà ăn.
Phía bờ Nam, ngụy quyền Sài Gòn cũng cho xây dựng một đồn cảnh sát cùng với một hệ thống đồn bốt với những lô cốt, tháp canh và hàng rào dây kẽm gai. Từ năm 1967, những công trình quân sự trong khu vực này bị phá hủy hoàn toàn.
Cụm di tích tại đôi bờ Hiền Lương là minh chứng cho lòng yêu nước, Nam – Bắc một lòng của nhân dân trước những âm mưu chống phá, chia rẽ của kẻ thù.
Cụm di tích Đôi Bờ Hiền Lương (nguồn internet)

Lê Huyền (tổng hợp)
Nguồn tài liệu tham khảo
:
www.vietnamtourism.com/index.php/tourism/items/1272
gioithieu.quangtri.gov.vn/index.php?language=vi&nv...dan-so
mobile.coviet.vn/detail.aspx?key=Quảng+Trị&type=A0
hoixe.net/di-tich-lich-su-doi-bo-hien-luongben-hai-o-quang-tri-9-295.ht.
http://www.webnode.com