Australia: Chiến lược Di sản thiên nhiên Tasmania 2013-2030 (Phần 2)

Bài liên quan:
>> Chiến lược Di sản thiên nhiên Tasmania 2013-2030 (Phần 1)


(Cinet)- Chiến lược Di sản thiên nhiên Tasmania được phát triển nhằm bảo tồn và quản lý di sản thiên nhiên trong giai đoạn 2013-2030, đồng thời tiếp tục hình thành kế hoạch quản lý di sản thiên nhiên trong các thập kỷ tới.

3.1.2. Mục tiêu 2: Các giá trị của sự đa dạng về mặt tự nhiên và địa lý cần phải được bảo tồn.


Chiến lược ủng hộ một phương thức tiếp cận thiên nhiên trong các hoạt động bảo tồn. Phương thức tiếp cận bảo tồn thiên nhiên này khác với các phương thức bảo tồn theo truyền thống khi có khả năng hoạt động trên quy mô không gian lớn hơn và liên kết các hoạt động quản lý trong việc sử dụng đất đa mục đích và các lãnh thổ với sự tư vấn của các nhà quản lý đất đai và các chủ sở hữu đất.

Phương thức bảo tồn thiên nhiên này hướng tới đảm bảo rằng các hoạt động bảo tồn được ưu tiên hàng đầu và được liên kết nhằm:

- Các khu vực có giá trị bảo tồn cao nhất được bảo vệ trong các khu bảo tồn thiên nhiên công và tư nhân hoặc nếu không sẽ được quản lý nhằm bảo đảm các giá trị của chúng.

- Quản lý đất đai gần khu vực được bảo tồn phù hợp với các giá trị của di sản thiên nhiên xung quanh.

- Môi trường sống của hệ động thực vật phải được quản lý nhằm tăng cường sự kết nối và hỗ trợ các quá trình sinh thái học.

- Các hoạt động sử dụng đất ổn định được thực hiện trên toàn bang.

Nhiều nguyên tắc về bảo tồn và quy hoạch thiên nhiên cũng như các hoạt động bảo tồn trên quy mô lớn cũng đã được áp dụng tại Tasmania. Các phương thức hiện nay sẽ là cơ sở để phát triển các công cụ ưu tiên hóa, quy hoạch và quản lý tại các điểm du lịch thiên nhiên. Phương thức này cần tới sự phối hợp ở cấp bang với các ban ngành, tổ chức có thể làm cho quá trình quản lý đi theo hướng hiệu quả, phối hợp tốt với các cấp quản lý tại cấp khu vực và địa phương.

Để áp dụng phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên, cần có sự tư vấn liên tục và hiệu quả từ phía các nhà hoạt động trong lĩnh vực này nhằm đảm bảo quyền làm chủ và sự tham gia của họ vào các quá trình thực hiện chiến lược. Hoạt động này đòi hỏi sự phát triển các công cụ và các hệ thống hỗ trợ nhằm tăng cường sự quản lý của các chủ đất và các nhà quản lý đất đai để ưu tiên và liên kết các biện pháp bảo tồn trên khắp các lãnh thổ thuộc bang. Các công cụ này sẽ dựa vào các chương trình đã thành công với các kết quả tích cực trong công tác bảo tồn thông qua quản lý hoạt động tình nguyện với môi trường như Chương trình Các khu vực cần được bảo tồn trên vùng đất tư nhân. Chương trình này giúp 230 hiệp định bảo tồn được kí kết trong thời gian liên tục với hơn 9.000 héc ta đất bao gồm các môi trường sống của khoảng 70 loài đang bị đe dọa. Các hành động xây dựng mối quan hệ đối tác với các bên liên quan và tăng cường thực hiện các chương trình quản lý môi trường sẽ được thảo luận trong Mục đích 4.

Liên quan đến phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên là các hành động bảo tồn cần phải được thực hiện tại các khu vực đặc biệt. Ví dụ, bảo tồn và quản lý các khu vực sinh sống trên quy mô nhỏ của các loài đang bị đe dọa, cung cấp thông tin tư vấn về quản lý đất đai và nguồn nước, đồng thời xác định sự xâm nhập các loài cỏ dại mới tại các khu vực trọng tâm. Phương thức này sẽ hỗ trợ xác định các hoạt động ưu tiên hàng đầu nhằm đảm bảo nhiều giá trị tự nhiên trên toàn bộ khu vực và sử dụng hữu ích và hiệu quả các nguồn tài nguyên.

Chiến lược này nhằm mục đích giúp các loài động thực vật tránh khỏi tình trạng bị đe dọa bằng cách áp dụng một phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên trong công tác bảo tồn. Hiện nay có khoảng 680 loài và 39 khu vực sinh sống của các loài thực vật hiện đang bị đe dọa tại Tasmania. Có thể nhiều loài hơn hiện đang bị đe dọa sẽ được xác định khi nhiều thông tin về các giá trị đa dạng sinh học sẽ được thu thập. Với sự thay đổi khí hậu và các ảnh hưởng khác đối với sự đa dạng về mặt sinh học, cũng có thể đưa ra dự đoán rằng tình trạng bảo tồn các loài động thực vật sẽ ngày càng gặp khó khăn hơn.
 
Ảnh minh họa. Nguồn: dautuquocte.org

Để vượt qua những áp lực nói trên, cần phải đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo các kế hoạch quản lý được xây dựng nhằm thực hiện các phương thức tiếp cận hiệu quả và hữu ích nhất trong công tác bảo tồn các loài bị đe dọa. Hiện nay, vẫn tồn tại cách thức sao chép và không thống nhất trong khi phân loại và quản lý các loài và khu vực đang bị đe dọa theo quy định luật pháp và các chính sách của bang và liên bang. Hợp tác với chính phủ Australia và các cơ quan pháp luật khác, hỗ trợ quá trình lập danh sách các loài và khu vực sinh sống bị đe dọa trở nên phù hợp với các quy trình lập danh sách của IUCN (Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế) là một hoạt động được ưu tiên hàng đầu. Các cơ hội khác nhằm giảm sự không thống nhất và sự sao chép cũng sẽ được đưa ra. Hơn nữa, quá trình xác định hoạt động ưu tiên trong công tác bảo tồn các loài đang bị đe dọa phải được dựa trên các phương thức hiện nay. Quá trình này rất cần thiết để đảm bảo sử dụng hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên cần được bảo tồn. Trong các điều kiện khả thi, các hoạt động này nên gắn liền với quy hoạch phong cảnh thiên nhiên và các mục đích bảo tồn.

Các giá trị của sự đa dạng về địa lý tại Tasmania đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ vì tình trạng ngập lụt, bão và hậu quả của sự thay đổi khí hậu hiện đang đặt ra những thách thức lớn. Những giải pháp mang tính lựa chọn để tăng cường bảo vệ hơn nữa sự đa dạng địa lý sẽ được xác định về phạm vi thực hiện thông qua rà soát chính sách và quy định pháp luật hiện hành.

Khung pháp lý và quản lý hiện nay không đưa ra một biện pháp có hệ thống hoặc thống nhất trong quản lý những ảnh hưởng lũy tích và gián tiếp đến sự đa dạng về mặt sinh học và địa lý. Các biện pháp giải quyết vấn đề này sẽ được đưa ra sau khi phát triển một chương trình quản lý tăng cường, đồng thời áp dụng một phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên trong bảo tồn. Một cuộc rà soát về quy định pháp luật và chính sách của bang cũng sẽ góp phần giải quyết vấn đề này.

Bảo tồn hiệu quả các hệ sinh thái cửa sông và sinh thái biển đòi hỏi một phương thức tiếp cận liên kết, xác định một loạt các biện pháp góp phần bảo vệ các loài và môi trường sống trên biển tại Tasmania. Các biện pháp này từ trước đã bao gồm sự phát triển các khu vực vùng biển cần được bảo vệ và sự thành lập các đường ranh giới, đảm bảo sử dụng ổn định các nguồn tài nguyên biển. Một biện pháp có tính chất lý luận và dựa trên nguy cơ đe dọa đến môi trường biển sẽ dựa trên các phương thức này, tuy nhiên cần phải xem xét các hướng giải quyết các vấn đề hiện nay như sử dụng các chỉ số thể hiện sự thay đổi khí hậu trong môi trường biển. Biện pháp này không chỉ tăng cường khả năng Tasmania trong quản lý sự ổn định môi trường biển mà còn đảm bảo đáp ứng nhiệm vụ của chúng ta trước quốc gia và thế giới. Một trong những minh chứng cho hoạt động này là trách nhiệm phải bảo tồn một loạt các loài chim biển và động vật có vú.

*Các hành động lâu dài hỗ trợ mục tiêu 2 đến năm 2030:

- Thực hiện một phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên khi ra các quy định, tiến hành quy hoạch và bảo tồn trên các vùng đất công và tư.

- Phát triển các cơ chế và biện pháp mới nhằm hỗ trợ quyền làm chủ các di sản thiên nhiên của các nhà quản lý đất đai.

- Tăng cường đưa các giá trị di sản về mặt địa lý vào trong các hệ thống quản lý và quy hoạch nguồn tài nguyên.

- Dựa trên các phương thức hiện nay, tiến hành phương pháp logic và dựa trên mức độ bị đe dọa trong công tác bảo tồn môi trường biển và cửa sông.

- Đảm bảo rằng các phương pháp bảo tồn các loài và môi trường bị đe dọa được ưu tiên hàng đầu, có tính hiệu quả và hữu ích, đồng thời phù hợp với các quá trình lập danh sách khu vực bảo tồn của quốc gia và quốc tế.

*Kết quả của mục tiêu 2:

- Các phương pháp tiếp cận phong cảnh thiên nhiên trong quy hoạch và bảo tồn các giá trị tự nhiên được hiểu đúng và được áp dụng, đồng thời tạo kết quả tốt hơn trong công tác bảo tồn.

- Khu bảo tồn Tasmania được xây dựng và quản lý nhằm tăng cường tối đa hoạt động bảo tồn các giá trị thiên nhiên, môi trường lục địa và môi trường biển bên ngoài các khu bảo tồn hiện đang được duy trì một cách ổn định.

- Công tác bảo tồn các loài và cộng đồng bị đe dọa được tăng cường hoặc duy trì ổn định.

3.1.3. Mục tiêu 3: Tăng cường khả năng phục hồi của các hệ thống sinh thái, các cộng đồng và các loài trước nguy cơ bị đe dọa từ các quá trình tự nhiên và tác động của con người.

Sự hồi phục của hệ thống sinh thái là khả năng của một hệ sinh thái chống chịu, hồi phục hoặc thích nghi với những thay đổi mà không làm mất đi chức năng và cấu trúc vốn có. Tăng cường sự hồi phục của hệ sinh thái là cách thức quản lý quan trọng vì nó ngăn cản các quá trình đe dọa khác nhau đến hệ sinh thái và là một phần trong các biện pháp đối phó với sự thay đổi khí hậu.

Với hơn 45% diện tích đất của Tasmania thuộc các khu bảo tồn công và tư nhân, một tỷ lệ lớn diện tích đất hiện đang được đưa vào các cấp bảo tồn trước các quá trình có nguy cơ đe dọa đến nguồn tài nguyên thiên nhiên. Duy trì điều kiện hoạt động của các khu bảo tồn và mở rộng mạng lưới một cách phù hợp sẽ góp phần củng cố khả năng hồi phục của hệ sinh thái. Phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên sẽ đề cập đến sự bảo vệ một mạng lưới gồm nhiều khu vực cư trú khỏi các quá trình gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái, tăng cường hoặc quản lý các đường tiếp giáp trong và giữa các hệ sinh thái, đồng thời duy trì hoặc tái xây dựng các quá trình tự nhiên như cơ chế sử dụng lửa và luồng nước trong môi trường tự nhiên. Tất cả các hoạt động này sẽ hỗ trợ xây dựng khả năng hồi phục của hệ sinh thái.

Mặc dù tăng cường đường tiếp giáp nhìn chung sẽ hỗ trợ khả năng phục hồi của hệ sinh thái, tuy nhiên trong một vài trường hợp, sự tách biệt có thể bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học bằng cách giảm ảnh hưởng của các loài xâm nhập và mầm bệnh cũng như các cơ chế dùng lửa không phù hợp.

Một phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên mang tính chiến lược cũng sẽ chú trọng đến các lợi ích tiềm tàng của quá trình cách ly trong một vài hoàn cảnh cụ thể. Cần phải có một phương thức tiếp cận chiến lược nhằm xác định cách thức kết hợp các sự lựa chọn phương pháp quản lý khác nhau để tăng tối đa kết quả tích cực trong công tác bảo tồn thiên nhiên.

Phương pháp này sẽ đòi hỏi sự kết hợp của các vùng đất tư và công cũng như các môi trường trên cạn, nước ngọt, bờ biển, cửa sông và biển. Vì vậy, nhiệm vụ tăng cường khả năng hồi phục hệ sinh thái sẽ cần tới sự hỗ rợ của tât cả các cấp chính quyền, khu vực, các tổ chức, cộng đồng và các cá nhân nhằm đảm bảo tận dụng tối đa các cơ hội duy trì và tăng cường khả năng hồi phục. Phương thức tiếp cận nhằm tăng cường sự hồi phục của hệ sinh thái được kết hợp với công tác ngăn ngừa và giảm trực tiếp các nguy cơ đe dọa đến di sản thiên nhiên nhằm đảm bảo rằng các giá trị đa dạng về mặt sinh học và địa lý của Tasmania được bảo tồn.

*Các hành động dài hạn nhằm hỗ trợ mục tiêu 3 đến năm 2030:

- Xác định một mạng lưới khu cư trú trên cạn và dưới nước cũng như các khu vực ưu tiên có thể tăng cường sự hồi phục của hệ sinh thái và tăng cường khả năng thích nghi, đồng thời đảm bảo rằng các khu vực này nằm trong các khu bảo tồn hoặc được quản lý, tiến tới đạt được kết quả tích cực trong công tác bảo tồn.

- Đảm bảo rằng các quá trình phát triển hệ sinh thái được cập nhật, lưu trữ và duy trì thông tin.

- Tăng cường quản lý sử dụng lửa nhằm duy trì các giá trị tự nhiên trong khi phòng tránh những mối nguy hiểm liên quan.

*Kết quả của mục tiêu 3:

- Sự hồi phục của hệ động thực vật môi trường nước và trên cạn trong tự nhiên phải được duy trì và tăng cường trong các điều kiện phù hợp.

- Hệ sinh thái tự nhiên và các quá trình thay đổi cơ bản được thông tin, duy trì và được khôi phục khi có thể trong điều kiện phù hợp.

- Cần phải quản lý lửa để duy trì giá trị tự nhiên trong khi kết hợp với quản lý các rủi ro trong sử dụng nhiên liệu nhằm bảo vệ cộng đồng và tài sản.

3.1.4. Mục tiêu 4: Những ảnh hưởng đến di sản thiên nhiên được xác định, đánh giá và quản lý thông qua biện pháp phân tích nguy cơ rủi ro với môi trường
  

Đảm bảo rằng các nguy cơ gây hại đến di sản thiên nhiên được xác định và quản lý phù hợp thông qua phân tích sâu rộng các nguy cơ chính vốn là một hành động quan trọng trong công tác quản lý và bảo tồn hiệu quả. Quá trình phân tích các nguy cơ tạo một phương tiện điều tra nguy cơ hiện nay và những vấn đề mới, xem xét sự thay đổi về quy mô của các quá trình đang có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến di sản thiên nhiên đồng thời ưu tiên thực hiện các biện pháp quản lý. Trong một môi trường luôn thay đổi, quá trình phân tích rủi ro phải được dựa trên những bằng chứng khoa học xác thực và sẵn có nhất, chú trọng đến tính không chắc chắn và được rà soát liên tục nhằm đảm bảo rằng các biện pháp hạn chế các nguy cơ này mang tính chất tạm thời và hiệu quả. Áp dụng phương thức quản lý phân tích sâu rộng các nguy cơ trong công tác bảo tồn sẽ cung cấp cơ hội tốt nhất cho các loài, các cộng đồng và hệ sinh thái về khả năng chống chịu, hoặc thích nghi với tự nhiên trước những tác động từ môi trường.

Có nhiều quá trình nguy hại có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, theo hình thức riêng biệt hoặc kết hợp đến di sản thiên nhiên. Các vấn đề được ưu tiên hàng đầu bao gồm:

- Sự biến đổi khí hậu

- Các loài và mầm bệnh xâm nhập

- Cơ chế sử dụng lửa không hợp lý

- Sự mất đi, sự xuống cấp và sự phân chia nhỏ lẻ môi trường sống

- Sử dụng và quản lý không ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Những thay đổi về môi trường biển và các luồng nước.

Những hành động trong chiến lược này đều nhằm mục đích xác định hoặc làm giảm những ảnh hưởng của các quá trình có nguy cơ đe dọa đến di sản t hiên nhiên. Nhiều khả năng bản chất và quy mô của các nguy cơ sẽ thay đổi trong các thập kỷ tới và những nguy cơ mới sẽ xuất hiện. Để giải quyết những vấn đề này, một phương pháp phân tích sâu rộng các nguy cơ sẽ được áp dụng nhằm xác định và đánh giá các nguy cơ cũng như ưu tiên cho các hành động quản lý, bảo vệ các di sản thiên nhiên.

Những đánh giá nguy cơ từ môi trường cũng sẽ đảm bảo rằng những ảnh hưởng tích lũy và gián tiếp được xác định, đánh giá và quản lý. Các ảnh hưởng mang tính chất cục bộ địa phương như sử dụng gỗ một cách trái phép, sự mất đi một phần nhỏ thảm thực vật và tình trạng rác thải trên biển cũng được xem xét. 

*Các hành động dài hạn hỗ trợ mục tiêu 4 đến năm 2030:

- Những đánh giá về nguy cơ từ môi trường kết hợp trong suốt quá trình hoạt động nhằm xác định và quản lý nguy cơ ảnh hưởng đến di sản thiên nhiên.

*Kết quả của mục tiêu 4:

- Các biện pháp bảo tồn hiệu quả tập trung vào những ảnh hưởng lớn nhất đến di sản thiên nhiên.

- Các quá trình đe dọa đến di sản thiên nhiên mới và hiện nay được xác định và quản lý một cách hiệu quả.
 
Ảnh minh họa. Nguồn: dautuquocte.org

3.1.5 Mục tiêu 5: Thích nghi với sự thay đổi và các biện pháp giảm những ảnh hưởng tiêu cực được xác định, đánh giá và đưa vào trong quá trình quản lý và quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên.

Những ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu đối với sự đa dạng về sinh học và địa lý được dự báo sẽ lan rộng, ngày càng nghiêm trọng và tăng cường về mặt quy mô trong các thập kỷ tiếp theo. Để giảm thiểu những ảnh hưởng có thể dự báo được, ngay lập tức cần xem xét đến các sự lựa chọn trong công tác bảo tồn nhằm mục đích các kế hoạch quản lý cần thiết trong các thập kỷ tiếp theo có thể được xác định, thực hiện và phát triển, sửa đổi.

Các chiến lược quản lý cần phải có tính linh động và hiệu quả, phù hợp với nhiều loại hình và phạm vi của sự thay đổi. Nhiều mục tiêu trong số các mục tiêu đã được xác định trong chiến lược sẽ hình thành một phần phương thức quản lý nhằm đối phó với sự thay đổi khí hậu. Phát triển phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên sẽ đóng vai trò trung tâm tăng cường sự hồi phục của hệ sinh thái.

Quan trọng nhất là một trong những giá trị tự nhiên sẽ bị mất do hậu quả của sự thay đổi khí hậu. Mực nước biển ngày càng tăng có thể giảm môi trường sống quan trọng của nhiều loài động vật gần bờ bởi tình trạng ngập lụt và gây nên sự xói mòn bờ biển trên quy mô lớn của quá trình địa mạo dễ bị ảnh hưởng như những cồn cát. Nhiệt độ trung bình ngày càng tăng có thể thu hẹp môi trường sống xung quanh các vùng núi cao. Các loài sinh vật biển và nước ngọt có thể mở rộng phạm vi sinh sống trong các vùng nước gần bờ. Những điều kiện thay đổi về môi trường có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật và mầm bệnh xâm nhập, gây nên những thay đổi lớn cho hệ sinh thái.

Chúng ta sẽ cần phải có những biện pháp giảm thiểu và khi cần thiết phải thông tin cụ thể bằng văn bản về những mất mát có thể xảy ra. Ví dụ, một số đặc điểm về di sản địa lý có thể biến mất hoàn toàn nên được thu thập tài liệu trước khi quá trình mất mát này xảy ra.

Cần phải đảm bảo rằng các giá trị văn hóa quan trọng với cộng đồng người dân bản xứ được duy trì trong quá trình địa mạo như lưu giữ hồ sơ về bãi vỏ sò trong các đụn cát.

Ngoài ra, các biện pháp bảo tồn ngoài khơi sẽ đóng vai trò quan trọng trong các điều kiện không thực hiện các phương thức bảo tồn trong bờ, không thể đảm bảo duy trì sự đa dạng về mặt sinh học. Các hành động sẽ cần phải được thực hiện như sưu tầm và bảo tồn hạt giống của Trung tâm bảo tồn hạt giống Tasmania tại Khu vườn sinh vật Hoàng gia Tasmania, các dự án nuôi nhốt, tách biệt và hoán vị tương tự hiện đang được sử dụng trong Chương trình Cứu Quỷ Tasmania.

*Các hành động lâu dài hỗ trợ mục tiêu 5 đến năm 2030:

- Tăng cường tối đa nguồn thông tin sẵn có và tri thức cần thiết về quá trình thích nghi và thay đổi phù hợp đối với các nhà quản lý đất đai, các nhà quy hoạch bảo tồn và quá trình ra quyết định, đồng thời tăng cường thực hiện các biện pháp nói trên.

- Đảm bảo di sản địa lý và các giá trị tự nhiên khác có thể bị mất phải được lưu trữ hồ sơ và trong điều kiện phù hợp góp phần đánh giá mức độ nguy cơ ảnh hưởng đến các giá trị di sản gắn liền với người bản địa.

- Duy trì sưu tập các loài động thực vật ưu tiên ngoài khơi để bảo tồn sự đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng loại gen tại những nơi khả thi và phù hợp.

*Kết quả của mục tiêu 5:

- Các chương trình kết hợp giữa quản lý và nghiên cứu được thực hiện nhằm thông tin về các chiến lược quản lý những thay đổi khí hậu.

- Sự thích nghi với những thay đổi khí hậu được đưa vào phương thức quản lý các di sản thiên nhiên Tasmania.

- Tăng cường hiểu biết về nguy cơ xảy ra với di sản thiên nhiên và các giá trị di sản có thể dễ bị ảnh hưởng gắn liền với người bản xứ.

3.1.6. Mục tiêu 6: Các biện pháp an toàn sinh học hiệu quả được thực hiện nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của các loài và mầm bệnh xâm nhập đến di sản thiên nhiên Tasmania.

Các loài và mầm bệnh xâm nhập là mối đe dọa chính tới di sản thiên nhiên và dự báo rằng sự thay đổi khí hậu và hoạt động thương mại toàn cầu ngày càng tăng nhanh sẽ kéo theo nhiều ảnh hưởng đến tương lai. Tasmania may mắn có cơ hội tốt hơn trong ngăn chặn sự xâm nhập của các loài và mầm bệnh hơn so với lục địa Australia do vị trí khá biệt lập. Hiện trạng bảo tồn tốt hơn các loài động vật có vú nhỏ trong bang khi so sánh với các lục địa Australia đã tạo nên sự an toàn sinh học. Sự khá tự do của các loài động vật và mầm bệnh cũng tạo thuận lợi cho Tasmania theo nhiều cách khác nhau bao gồm tạo khả năng cho các nhà sản xuất lớn tiếp cận các thị trường quốc tế đồng thời giảm nhu cầu về một số loài thuốc trừ sâu và thuốc dùng trong nông nghiệp.

Trong quá trình đối mặt với mức độ nguy hiểm ngày càng tăng, các biện pháp đảm bảo an toàn về mặt sinh học cần phải được tăng cường nhằm ngăn cản sự xâm nhập mới. Tasmania có nhiều động thực vật nhìn chung khác biệt so với loài cùng họ hiện đang sinh sống tại vùng lục địa. Để bảo tồn sự đa dạng về mặt sinh học chúng ta cần đảm bảo rằng các biện pháp an toàn sinh học duy trì tính độc đáo của các loài cũng như ngăn cản sự xuất hiện các loài xâm nhập. Để bảo tồn tính đa dạng sinh học, Tasmania nên tạo không gian tự do cho loài cóc và giảm thiểu ảnh hưởng của các chú mèo hoang trong mọi trường hợp có thể.

Chúng ta cũng cần được chuẩn bị tốt để ứng phó với các loài và mầm mống mới xâm nhập, đồng thời kiểm soát và quản lý các loài và mầm bệnh xâm nhập đã tồn tại ở Tasmania. Đôi khi một loài hoặc dịch bệnh mới được khám phá mà không biết chúng sinh sống nơi bản địa hay xâm nhập đến vùng đất này. Đây có thể là một vấn đề tại một số khu vực không được nghiên cứu cụ thể và xác thực như môi trường biển hoặc khi có bệnh dịch mới xuất hiện. Dự đoán rằng trong tương lai sẽ khó khăn hơn khi phân biệt sự mở rộng về phạm vi của các loài bản xứ hoặc sự xuất hiện mới của các loài và mầm mống xâm nhập. Đây sẽ là thách thức chủ yếu đối với môi trường biển. Khung quản lý cần phải tăng cường đánh giá môi trường và đảm bảo rằng các giá trị tự nhiên được bảo tồn.

Như đã được nhấn mạnh trong Chiến lược an toàn sinh học Tasmania, một phương thức thành công đảm bảo sự an toàn sinh học tại Tasmania đòi hỏi mọi người dân Tasmania cùng đoàn kết, hợp tác để đạt được các kết quả tốt. Để nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực của người dân Tasmania, các nhà quản lý đất đai và các ngành công nghiệp chính cùng tham gia vào các biện pháp an toàn sinh học. Đây là hoạt động cơ bản để đạt được mục tiêu này. Nhiều hoạt động đã được tiến hành trong lĩnh vực này bởi các nhóm cộng đồng, các ngành công nghiệp trọng điểm và các nhà quản lý đất đai quy mô lớn như các nhà sản xuất chính, Công ty sản xuất thủy điện Tasmania và Cục Lâm nghiệp Tasmania. Bộ sẽ tiếp tục liên kết với các đối tác để xây dựng các quá trình quản lý kĩ lưỡng và liên tục nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của các loài và mầm bệnh xâm nhập đối với di sản thiên nhiên.
 
Ảnh minh họa. Nguồn: dautuquocte.org

*Các hành động dài hạn hỗ trợ mục tiêu 6 đến năm 2030:

- Duy trì các biện pháp phù hợp về an toàn sinh học nhằm ngăn chặn sự xâm nhập mới vào vùng lãnh thổ Tasmania thông qua liên kết với chính phủ Australia và các cơ quan thực thi pháp luật khác.

- Đảm bảo rằng các chương trình quản lý được xây dựng nhằm mục đích điều tra các sự xâm nhập mới của các loài và các mầm bệnh cũng như sự xuất hiện của các loại dịch bệnh trong các loài bản xứ, tăng cường khả năng và năng lực thích nghi với những hoạt động điều tra mới.

- Xây dựng, thực hiện và rà soát kế hoạch của bang, khu vực và địa phương trong quản lý các loài và mầm bệnh xâm nhập.

*Kết quả của mục tiêu 6:

- Điều kiện và hiện trạng của các di sản thiên nhiên được duy trì tốt hoặc nâng cấp thông qua các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và quản lý các loài và mềm bệnh xâm nhập.

- Tasmania được chuẩn bị tốt để ứng phó với sự xâm nhập của các loài và mầm mống mới cũng như sự xuất hiện của các dịch bệnh mới.

3.1.7. Mục tiêu 7: Các nguồn và dịch vụ sinh thái được sử dụng ổn định tại Tasmania.

Nhiều nhà sản xuất chính và những người sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ theo cách thức tăng cường bảo tồn thông qua duy trì sự ổn định và hành động của các cộng đồng tại cấp cơ sở. Các công cụ như hệ thống quản lý môi trường và quy hoạch quản lý bất động sản cung cấp một phương tiện lập kế hoạch quản lý nhằm đạt các kết quả đa chiều trong đó bao gồm khả năng sản xuất nông nghiệp, bảo tồn sự đa dạng sinh học và bảo đảm tình trạng đất và chất lượng nước. Ngoài ra, các ngành ngư nghiệp được quản lý nhằm hạn chế những ảnh hưởng đối với các loài không chủ đích và đảm bảo tính ổn định. Ý thức và sự hiểu biết về các giá trị tự nhiên ngày càng được nâng cao thông qua giáo dục sẽ góp phần đẩy mạnh thực hiện phương thức tích cực trong công tác bảo tồn từ các nhà quản lý và chủ sở hữu đất đai.

Bằng cách áp dụng phương thức tiếp cận phong cảnh thiên nhiên trong công tác bảo tồn, Bộ tập trung vào gắn kết tốt hơn các hoạt động xung quanh bất động sản và trên biển với quy hoạch trong khu vực và bang. Bộ sẽ tiếp tục cung cấp thông tin tư vấn cho các chủ đất và người ngư dân về phương thức lựa chọn để bảo tồn các di sản thiên nhiên. Chúng ta sẽ tiếp tục liên kết với ngành nông nghiệp và các tổ chức nhà thầu dân sự và khai thác mỏ (NRW) phát triển khung hệ thống quy hoạch quản lý bất động sản nhằm mục đích tiến hành phương thức đảm bảo hoạt động hiệu quả nhất bảo vệ môi trường xét ở quy mô tài sản trong khi đơn giản hóa các quá trình pháp luật ảnh hưởng đến các nhà quản lý đất đai. Bộ sẽ hỗ trợ các ngành công nghiệp chính trong áp dụng và phát triển các hệ thống quản lý môi trường phù hợp nhằm hỗ trợ đảm bảo chất lượng sản phẩm và sự thành công trong quản lý môi trương.

Bộ sẽ liên kết chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ tại Tasmania, tạo cơ hội cho các nhà quản lý đất đai trong bảo tồn, trùng tu và phục hồi các giá trị tự nhiên trên các tài sản của họ. Một phương thức liên kết hỗ trợ công tác bảo tồn trong khi vẫn duy trì khả năng sinh sôi phát triển chính là chìa khóa để đạt được các mục tiêu mà chúng ta hướng tới nhằm tạo sự thành công trong quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại Tasmania.

Các hệ sinh thái tạo cho người dân Tasmania các dịch vụ quan trọng phát triển theo hệ sinh thái. Một trong những dịch vụ giá trị nhất mà các hệ sinh thái cung cấp là nguồn nước sạch được sử dụng trong tái tạo, tiêu dùng, dẫn nước, kinh doanh và tạo nguồn điện. Ý thức sâu sắc hơn về các dịch vụ sinh thái sẽ tăng cường công tác bảo tồn cả trên các vùng đất công và tư nhân. Có thể sự hạn chế các dịch vụ sinh thái như cung cấp nguồn nước sạch sẽ thay đổi cách thích nghi với những thay đổi khí hậu và các quá trình đe đọa khác. Quản lý và đánh giá sẽ đóng vai trò quan trọng xác định các hạn chế này.

*Các hành động dài hạn hỗ trợ mục tiêu 7 đến năm 2030:

- Đưa hoạt động quản lý quy mô tài sản vào trong phương pháp tiếp cận phong cảnh thiên nhiên về bảo tồn và tăng cường sự hiểu biết về quy hoạch quản lý bất động sản và các hệ thống quản lý môi trường trong lĩnh vực nông nghiệp, nghề nuôi trồng thủy sản và ngư nghiệp.

- Tăng cường giá trị của các dịch vụ sinh thái và đảm bảo cân nhắc và xem xét các giá trị này trong các hệ thống ra quyết định và quy hoạch.

*Kết quả của mục tiêu 7:

- Sử dụng đất mang tính chất ổn định và mức độ xuống cấp giảm đối với chất lượng đất, đồng thời đất được trùng tu hoặc tái xây dựng.

- Các dịch vụ sinh thái được duy trì ở mức độ hiện nay cho các thế hệ tương lai.

Hồng Nhung (lược dịch, nguồn: dpipwe.tas.gov.au)