Tiếng đàn tơ - âm sắc dân tộc Việt của NSND Xuân Hoạch

(Cinet) - NSND Nguyễn Xuân Hoạch được coi là bậc kỳ tài trong làng cổ nhạc với khả năng chơi thành thạo 6 loại nhạc cụ, một trong số rất ít những nghệ sỹ Việt Nam được tổ chức “World Masters” (Những bậc thầy thế giới) công nhận là Nghệ nhân thế giới. 

Nhân dịp năm mới Đinh Dậu, Trang tin điện tử CINET - Bộ VHTTDL đã có buổi trò truyện với NSND Nguyễn Xuân Hoạch – một con người tâm huyết với âm nhạc cổ truyền của dân tộc.
 
NSND Xuân Hoạch bên cây đàn bầu cổ do ông phục chế.
Nguồn: Từ Video "Xẩm ba bậc" của NSND Xuân Hoạch

Thưa ông, động lực nào giúp ông gắn bó với âm nhạc cổ truyền dân tộc, đặc biệt là với tiếng đàn tơ như vậy?

Với tôi tất cả bắt đầu từ tình yêu chảy trong huyết quản. Sinh ra là người con của vùng quê  Thái Bình, nơi mang đậm dấu ấn của chiếu chèo và sau đó theo học bộ môn nhạc dân tộc tại Trường âm nhạc Việt Nam, âm nhạc cổ truyền thấm vào tôi như hơi thở cuộc sống. Ban đầu, tôi được xếp cho học bộ môn đàn nguyệt. Cuộc sống thời chiến tranh lúc đó rất vất vả vì phải đi sơ tán. Từ năm 1966-1970 thì tốt nghiệp, thời kỳ đó tuy rất vất vả, tuy nhiên đã gắn bó với nghề thì phải đắm đuối với nó. Với tôi được cống hiến cho nghệ thuật dân gian thực sự là điều may mắn trong cuộc đời, tôi cứ gắn bó từ đó cho tới tận bây giờ, và suốt cuộc đời cũng chỉ gắn bó với âm nhạc dân gian.

Tiếng tơ, tiếng trúc “ti trúc” – đã đi vào nền văn học Việt Nam và âm nhạc dân gian Việt, đi vào cuộc sống người nông dân tựa như hơi thở cuộc sống, tạo thành thứ văn hóa cao cấp. Tằm rút ruột nhả tơ và rồi tiếng tơ ấy đến với khán giả,  tiếng tơ lòng cũng ra đời từ ấy.

Với tiếng đàn tơ, thì sau khi tốt nghiệp hơn 1 năm, tôi về công tác tại Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam – Đoàn ca múa Trung ương, sau đó là Đoàn ca nhạc Trung ương và được cử đi học đàn đáy từ nghệ nhân rất nổi tiếng từ thế kỷ trước là cụ Đinh Khắc Ban.

Đó cũng là thời gian nghệ thuật ca trù đang đi xuống sau thời gian chiến tranh kéo dài. Tôi đ học đàn để lấy cái gân, cái ngón phục vụ công việc của đoàn. Được sự tận tình truyền dạy của thầy tôi cố gắng tiếp thu và từ đó gắn bó thêm với nghệ thuật ca trù. Tâm sự cuộc đời của người thầy đã trở thành động lực giúp tôi gắn bó với chiếc đàn đáy, với nghệ thuật ca trù nói riêng và âm nhạc truyền thống nói chung.

Được biết ngoài chơi đàn, ông còn bắt tay làm đàn, phục chế đàn bầu cổ. Tới nay, ông có nhớ được mình đã làm ra bao nhiêu nhạc cụ? Và điểm đặc biệt của các nhạc cụ đó là gì?

Nhiều năm về trước, lúc đó, dây tơ cũng không còn nữa và chẳng còn ai se tơ bán để làm dây đàn thay vào đó là những sợi dây đàn từ chất liệu nilon. Nhưng dây đàn làm bằng nilon thì còn gì là hồn cốt.
 
Dây đàn từ chất liệu tơ tằm nguyên chất do NSND Xuân Hoạch se. Ảnh: Gia Linh

Cách đây 5 năm, tôi nhờ một vài người bạn kiếm cho một ít tơ. Nhưng tơ để dệt lụa ở làng Vạn Phúc đã được trau truốt, thanh lọc tạp chất thì quá mỏng manh, dễ đứt. Nhờ bạn bè quảng giao, tôi nhờ được người trồng dâu nuôi tằm ở Hà Nam và tìm được sợi tơ tằm nguyên chất để làm dây đàn. Tơ tằm nguyên chất khi se xong, nhờ tác động nhỏ của phụ gia đã tạo thành sợi dây đàn chắc chắn, bền chặt và những nhạc cụ dây tơ của tôi lần lượt ra đời.

Tôi nhớ nhất lần phục chế chiếc đàn bầu cổ cũng là chiếc đàn đầu tiên tôi chế tác. Qua một người quen thuộc viện nghiên cứu âm nhạc, tôi được xem một ảnh tư liệu về chiếc đàn bầu cổ do người Pháp chụp có niên đại từ năm 1906. Tôi tự mày mò, ước lượng và đóng lại chiếc đàn đó.

Duy có một điều lạ là cần chiếc đàn bầu này rất cao. Tuy nhiên, khi để ý tôi phát hiện ra lý do khiến cây đàn cao như vậy là do ngày xưa tổ sư hát xẩm, tổ nghề là người khiếm thị (Theo sách sử ghi lại, nghề hát xẩm ra đời từ thời Trần, tổ nghề xẩm từ trong cung ra). Tôi chiêm nghiệm và nhận ra rằng để dây đàn cao như vậy thì cảm giác đàn dễ đánh hơn, cảm nhận tốt hơn. Từ đó đến nay tôi đã làm khoảng hơn 20 cây đàn với chất liệu tơ tằm.
 
Ông luôn treo nhạc cụ ở những vị trí trang trọng nhất. Ảnh: Gia Linh
Được mệnh danh là ông vua hát xẩm, một trong những người tham gia công cuộc chấn hưng hát xẩm tại Việt Nam. Theo ông, vấn đề cốt lõi để trấn hưng hát xẩm nói riêng và nghệ thuật truyền thống nói chung là gì?

Xẩm là một bộ môn nghệ thuật truyền thống. Nhưng nếu không có người giữ thì xẩm chẳng còn. Người hát xẩm cuối cùng (là nghệ nhân Hà Thị Cầu) mà không có người kế tiếp yêu xẩm, gìn giữ xẩm thì giờ đã chẳng còn hát xẩm.

Năm 2003, tôi làm CD riêng về đàn bầu, đàn nguyệt, đàn đáy, hát xẩm và từ đó gắn bó với công cuộc chấn hưng hát xẩm, đồng thời là một thành viên thuộcTrung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam.

Vốn dĩ tôi bén duyên với hát xẩm từ rất lâu. Ngày xưa, khi đi học và làm việc trên Hà Nội tôi đã được nghe hát xẩm bên cạnh các ga tàu điện, và vốn dĩ từ xưa, khi còn 3,4 tuổi tôi đã được nghe hát xẩm tại các khu chợ quê cùng mẹ. Tình yêu bén rễ lúc nào không hay, mỗi câu hát xẩm cứ lắng lại trong lòng để đến khi mình tập hát lại và thấy hay, ý nghĩa.

Đến nay đã hơn 10 năm tôi là thành viên góp công sức trong việc phục hồi bộ môn nghệ thuật dân gian truyền thống này. Tôi vẫn nhớ giai đoạn thường xuyên biểu diễn tại Chợ Đồng Xuân vào mỗi tối thứ 7, chủ nhật. Nhưng nay do mình đã lớn tuổi và bận nhiều công việc nên cũng ít tham gia, và chuyển lại cho lớp trẻ biểu diễn.
 
NSND Xuân Hoạch - Ông vua hát xẩm. Ảnh: Minh Khánh
Hơn 60 năm gắn bó với âm nhạc cổ truyền của dân tộc, có lúc nào ông thấy chạnh lòng về sự mai một của âm nhạc truyền thống trong cơn bão nhạc thị trường hiện nay? Xin ông chia sẻ những nhận định của mình về sức sống của âm nhạc cổ truyền trong bối cảnh hiện nay?

Buồn chứ, có lúc buồn nhưng không thể xoay chuyển được. Nhưng với tôi, những gì đã thuộc về hồn cốt thì không thể nào mất đi, âm nhạc dân gian vẫn là muôn thủa. Đặc biệt, khi có sự hợp sức, có người chú tâm, bồi dưỡng thì sẽ rất nhanh phục hồi.

Xẩm cũng vậy nếu không có người tâm huyết đi khắp các địa phương, tìm các nghệ nhân về biểu diễn và truyền dạy thì làm sao có thể phục hồi được. Với tôi, hát xẩm như là thứ cơm ăn nước uống hàng ngày, thấy khát thì phải uống, thấy đói thì ăn cơm, mà buồn thì hát xẩm là vui hết. Hát xẩm cũng như âm nhạc dân gian gắn bó với những thứ bình thường nhất trong cả cuộc đời mình.

Sinh ra không phải là người hát xẩm nhưng tôi thấy mình phải có trách nhiệm với bộ môn này và âm nhạc dân gian. Tôi đi học đàn ca trù, gắn bó với ca trù cũng bởi vì lý do đó. Mình trân trọng mình trước sau đó mình truyền tâm huyết lại cho mọi người cùng làm.

Mở cửa là tất yếu. Đất nước đã trải qua những năm tháng chiến tranh, khi mở cửa, cơn bão văn hóa nước ngoài tràn vào Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của một bộ phận giới trẻ. Giữa cơn lốc đó, âm nhạc dân gian vẫn có được những chỗ đứng nhất định. Khi ra chợ Đồng Xuân biểu diễn, tôi không ngờ rằng nhiều thanh niên trẻ từ khắp các vùng miền (như Nam Định, Sơn Tây, Hải Dương, Thái Bình …) ra xem. Cho đến giờ phút này, tôi vẫn tin rằng chất Việt, màu Việt vẫn có sức sống mãnh liệt.

Là người tâm huyết với cổ nhạc, hiện nay, ông đã làm gì để lan tỏa tình yêu âm nhạc cổ truyền của mình tới với thế hệ trẻ?

Tôi vẫn đi biểu diễn cho bà con khắp nơi. Hôm 14, 15/1 vừa qua, tôi diễn tại Chợ nông sản Ecopark Hưng Yên, tôi cũng không thể ngờ bà con đi chợ xem hát xẩm đông thế. Từ già tới trẻ, dồn vào chỗ xem hát xẩm bởi xẩm truyền tải rất gần gũi những vấn đề xã hội quan tâm từ quá khư cho đến hiện tại. Xẩm được bà con đón nhận nồng nhiệt. Tôi vui vì là người truyền đạt những vẻ đẹp của xẩm đến với mọi người.

Những kiến nghị của ông trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy tiếng đàn tơ, âm nhạc truyền thống của dân tộc?

Cái này không chỉ riêng tôi mà của rất nhiều người, tôi đã về hưu nhưng may mắn còn sức khỏe, cũng đang tầm chín về tư tưởng và tài năng nghệ thuật để có thể lưu truyền âm nhạc cổ truyền cho thế hệ sau.Tôi chỉ mong được hỗ trợ mở lớp dạy ca trù, hát văn, hát chèo… để gìn giữ lại những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc qua việc truyền dạy cho thế hệ trẻ và những người thực sự yêu thích, để chúng tôi được cống hiến trong việc bảo tồn âm nhạc nói riêng cũng như những giá trị văn hóa của dân tộc nói chung.

Chân thành cảm ơn những chia sẻ của ông.

Gia Linh (thực hiện)