Hàn Quốc: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

(Cinet)- Hàn Quốc ngày càng có nhiều di sản văn hóa được UNESCO công nhận Điều ấy cũng có nghĩa rằng Hàn Quốc sở hữu nhiều tài sản có giá trị với nhân loại. Hay nói cách khác, di sản văn hóa của Hàn Quốc được hình thành trên nền tảng môi trường thiên nhiên tuyệt vời đã và đang được thế giới đánh giá cao theo những tiêu chuẩn khách quan. Điều này góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp du lịch của Hàn Quốc và thu hút thêm nhiều du khách nước ngoài đến đây.
I. Bảo tồn giá trị di sản văn hóa
1. Vai trò của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Một trong những trách nhiệm chính của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là bảo tồn di sản văn hoá quốc gia. Một phần ngân sách nhất định được phân bổ cho các hoạt động hỗ trợ phát triển các bảo tàng, công viên quốc gia, thư viện, trung tâm lưu trữ quốc gia, các di sản văn hoá di chuyển được  và không di chuyển được và bảo vệ môi trường quốc gia và các loài động vật gặp nguy hiểm.
Chức năng bảo tồn di sản văn hóa như tu bổ các cung điện lịch sử được thực hiện bởi Cục Quản lý Tài sản Văn hoá. Các bộ phận bảo tàng trực thuộc cũng được thành lập tại các bảo tàng lớn của Hàn quốc tại nước ngoài như Anh, Pháp, Nhật Bản, Mỹ..vv. Các tổ chức trực thuộc này do Hiệp hội Văn hoá và Nghệ thuật Hàn Quốc và Hội Bảo trợ ngành kinh tế tư nhân hỗ trợ về tài chính.
Bộ Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm về quản lý các tài sản văn hoá hiện có tại các công viên quốc gia này như đền, chùa, các công trình lớn về tự nhiên, các loài động vật đang gặp nguy hiểm trong khi Bộ Quản lý Nhà nước và Tự trị địa phương chịu trách nhiệm về công tác bảo tồn các công viên này.
Bộ đã tiến hành sửa đổi Luật Công viên quốc gia vào năm 1996 để bảo vệ các công viên quốc gia khỏi những tác động từ các phương tiện giải trí và hoạt động thể thao.
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch giao Cục Quản lý Tài sản Văn hoá có nhiệm vụ chính trong việc thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hoá và các hoạt động khác nhau như quản lý, nghiên cứu, khai quật, trùng tu các khu di tích văn hoá, hợp tác quốc tế về văn hóa. Đồng thời Cục Quản lý Tài sản Văn hóa cũng thực hiện chức năng công nhận các di sản văn hóa quốc gia.
2. Bảo tồn di sản sau chiến tranh
Trong nửa đầu thế kỷ XX, trải qua giai đoạn bị đế quốc Nhật chiếm đóng và cuộc chiến tranh Triều Tiên khốc liệt, người Hàn càng có ý thức hơn trong việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa của mình. Có lẽ là vì người dân cảm thấy có trách nhiệm phải khôi phục và bảo tồn những di sản văn hóa bị thất lạc hay hư hại do hậu quả của biến động lịch sử, để qua đó xây dựng lại niềm tự hào quốc gia và truyền lại niềm tự hào đó cho thế hệ tương lai. Từ năm 1955, tức hai năm sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Chính phủ Hàn Quốc đã đề ra “Tuần lễ cảm kích các di tích văn hóa”.
Động Seokguram đã được bắt đầu trùng tu vào năm 1961
Bước vào những năm 1960, các hoạt động tu sửa và phục hồi các di sản văn hóa càng trở nên sôi nổi hơn. Một trong những di sản văn hóa tiêu biểu nhất của Hàn Quốc, động Seokguram đã được bắt đầu trùng tu vào năm 1961. Seokguram là một hang động được hình thành bằng việc đẽo đá granit và đá tự nhiên nằm trên núi Toham, thuộc thành phố Gyeongju, cố đô của vương quốc Silla. Động được xây dựng vào năm 751, năm thứ 10 trị vì của vua Gyeongdeok thuộc vương triều Silla. Đây được coi là một tuyệt tác trên cả phương diện tôn giáo, nghệ thuật, kiến trúc lẫn hình học thời kỳ hoàng kim của triều đại Silla thống nhất. Sau đó, vào năm 1969, chùa Bulguk cũng ở Gyeongju, ngôi chùa đã gắn bó với Hàn Quốc suốt chặng đường 1200 năm lịch sử, cũng được đưa vào trùng tu. Sau dự án kéo dài ba năm, chùa Bulguk đã được khôi phục lại diện mạo cũ và giữ nguyên như thế cho đến ngày nay.
Cùng với việc tu sửa, bảo tồn các di sản văn hóa, Chính phủ cũng dồn sức vào việc quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống. Một ví dụ tiêu biểu chính là kho cất giữ bộ Đại trường Kinh thời Goryeo tại chùa Haein. Kho cất giữ bộ Đại trường kinh thời Goryeo, di sản văn hóa quốc gia số 52 nằm trong chùa Haein ở huyện Hapcheon, tỉnh Nam Gyeongsang, vốn dĩ là công trình kiến trúc đầu thời kỳ Joseon, được xây dựng với hệ thống điều tiết gió, nhiệt độ và độ ẩm hoàn hảo. Đồng thời bên trong nó còn được thiết kế thành các kệ để bảo quản kinh sách khắc gỗ…Tất cả cho thấy trí tuệ tuyệt vời của người Hàn Quốc thời xưa.
3. Những nỗ lực đưa di sản văn hóa vào danh sách di sản thế giới
Di sản thế giới của UNESCO chỉ những tài sản văn hóa, lịch sử, kiến trúc được đưa vào danh sách di sản thế giới theo Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được thông qua vào tháng 10 năm 1972. Quá trình đăng ký di sản thế giới rất phức tạp, khó khăn và thường mất khoảng ba năm. Ông Huh Kwon hiện là Giám đốc Trung tâm Mạng lưới và thông tin quốc tế về Di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á-Thái Bình Dương thuộc UNESCO và cũng từng là một thành viên của phái đoàn Hàn Quốc tới UNESCO vào năm 1995 cho biết về quá trình này: “Quá trình để được Liên hợp quốc công nhận di sản thế giới được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là lên một danh sách sơ bộ để đệ trình lên UNESCO rằng chúng ta có những di sản nào muốn được xét duyệt, ít nhất một năm trước khi quá trình xét duyệt trong nước bắt đầu. Quá trình xét duyệt trong nước là một khi các chuyên gia hoặc các tổ chức địa phương đề xuất một di tích văn hóa là di sản thế giới, Ủy ban di sản văn hóa trong nước sẽ đánh giá và xét duyệt di sản đó một cách ký lưỡng. Cả quá trình đó phải mất trung bình hai năm. Sau đó, hồ sơ đệ trình chính thức sẽ được nộp trực tiếp đến trụ sở UNESCO và nếu cần thiết thì sẽ bổ sung hồ sơ. Tiếp theo, UNESCO sẽ cử một đoàn thanh tra đến tận nơi để xem xét kỹ lưỡng các di sản trong danh sách.”
Hàn Quốc gia nhập Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới gọi tắt là Công ước Di sản thế giới vào năm 1988. Sáu năm sau đó, vào năm 1994, khi Seoul hoàn thành xong hồ sơ đăng ký di sản thế giới đối với ba di sản trong nước, chùa Bulguk không nằm trong danh sách đệ trình này. Tuy nhiên, đoàn thị sát của UNESCO đến Hàn Quốc đã đề nghị đưa ngôi chùa này vào danh sách xét duyệt, cho thấy UNESCO đã nhận ra giá trị của chùa Bulguk. Ông Huh Kwon nói: “Vào thời điểm đó, các nhà chức trách Hàn Quốc cứ nghĩ rằng những di sản văn hóa được lựa chọn phải giữ nguyên vẹn tình trạng ban đầu. Đó là lý do chùa Bulguk không được đưa đề xuất, mà chỉ có động Seokguram thôi. Tuy nhiên, khi đoàn thanh tra của UNESCO đến thị sát, họ đã đề nghị đưa chùa Bulguk vào danh sách cùng với động Seokguram. Đoàn thanh tra nói rằng Công ước Di sản thế giới đặt nặng ý nghĩa, giá trị tinh thần của di sản hơn là việc nó có bảo tồn được nguyên trạng hay không. Vì vậy, ngay cả khi di sản đó đã được tu sửa thì vẫn có thể được xếp vào di sản thế giới, chỉ cần còn giữ nguyên giá trị văn hóa ban đầu. Cũng vì thế mà cái tên chùa Bulguk đã được đặt cạnh động Seokguram để đệ trình xét duyệt di sản thế giới.”
Một khi di sản được công nhận là di sản thế giới thì nó sẽ được lưu giữ, bảo tồn theo tiêu chuẩn quốc tế. Ông  Huh Kwon cho biết: “Bản chất của việc UNESCO lựa chọn di sản thế giới là bắt nguồn từ nhận định một số quốc gia không đủ khả năng bảo tồn các di sản này, và vì thế các nước phát triển hơn phải đứng ra để hỗ trợ theo tinh thần của Công ước chung. Quỹ Di sản thế giới sẽ tài trợ từ việc thiết lập kế hoạch quản lý bảo tồn đến việc đào tạo các chuyên gia bảo tồn hay in ấn tài liệu quảng bá. Việc tài trợ sẽ được quyết định dựa trên hồ sơ, bản thảo kế hoạch mà quốc gia sở hữu di sản đệ trình lên Ủy ban di sản thế giới. Ngoài ra, cộng đồng quốc tế cũng sẽ giúp đỡ trong những trường hợp khẩn thiết như khi di sản đó bị hư hại bởi hỏa hoạn, chiến tranh, thiên tai.”
Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO đã xuất bản các tài liệu quảng bá về di sản hàng năm và phát hành đến cơ quan quản lý du lịch của các nước, qua đó đóng góp lớn vào việc thúc đẩy ngành du lịch quốc tế.
II. Phát huy giá trị di sản văn hóa
 
Hàn Quốc luôn nhận thức được tầm quan trọng của các di sản trên đất nước mình và không ngừng nỗ lực bảo vệ, nâng cao nhận thức về giá trị các di sản này. Mỗi di sản đều được Chính phủ xác định là tài sản và báu vật của quốc gia và địa phương. Chính phủ Hàn Quốc hiện đã và đang rất nỗ lực nâng cao vị thế và hình ảnh của Hàn Quốc như một phần của “Sáng kiến Xây dựng Thương hiệu Quốc gia” thông qua việc phát huy các di sản vật thể và phi vật thể. 
Ngày càng có nhiều di sản văn hóa được UNESCO công nhận cũng có nghĩa rằng Hàn Quốc sở hữu nhiều tài sản có giá trị với nhân loại. Hay nói cách khác, di sản văn hóa của Hàn Quốc được hình thành trên nền tảng môi trường thiên nhiên tuyệt vời đã và đang được thế giới đánh giá cao theo những tiêu chuẩn khách quan. Điều này góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp du lịch của Hàn Quốc và thu hút thêm nhiều du khách nước ngoài đến đây. Trong tương lai nếu có nhiều hơn nữa di sản được UNESCO công nhận thì nhất định nó sẽ đóng góp lớn cho sự phát triển của đất nước trên cả phương diện văn hóa và kinh tế.
Hiện nay, Hàn Quốc thu hút hút rất nhiều du khách nước ngoài từ châu Âu và khu vực Đông Nam Á, đặc biệt du khách từ các nước Trung Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam. Khi đến thủ đô Seuol, mọi người đều ấn tượng về một thành phố phát triển hiện đại. Vì thế,  trong xây dựng sản phẩm văn hóa du lịch, Hàn Quốc luôn cố gắng thể hiện rõ sự hiện đại đó đối với du khách nước ngoài.
Tuy nhiên, Hàn Quốc cũng rất chú trọng tới văn hóa truyền thống, đặc biệt là các di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận. Mỗi du khách đến với Hàn Quốc đều được giới thiệu về giá trị kiến trúc của Cung Gyeongbok – niềm tự hào của kiến trúc cung điện phương Đông; di sản những phản gỗ Tripitaka Koreana (dùng để in kinh Phật) và Janggyeongpanjeon (một địa danh cổ xưa lưu giữ những tấm phản gỗ này), đền Haeinsa, tạ đình Gyeongsangnam-do, miếu thờ Jongmyo và Cung Changdeokgung ở Seoul, pháo đài Hwaseong tại Suwon; Di sản phi vật thể như món Kim chi, hồng sâm, linh chi…tất cả đều được thế giới biết đến.
Gyeongbokgung – Cảnh Phúc Cung uy nghiêm ở Seoul
Ngoài ra, người Hàn Quốc còn giới thiệu các phong tục tập quán rất đặc trưng đến với du khách nước ngoài. Những phong tục tập quán này được giới thiệu đến du khách bằng một cách rất tự nhiên và thực tế, chẳng hạn khi giới thiệu về Phật giáo, về những ngôi chùa cổ, chúng tôi mời du khách đến thăm ngôi chùa đó, được nghe giảng đạo và ngủ đêm ở chùa.
Cùng với đó, du khách sẽ tham gia các công việc của nhà chùa như quét sân, đi thăm quan những nơi ở, nơi ăn của sư sãi trong chùa, được xem những không gian tái hiện lại cuộc sống sinh hoạt của người Hàn Quốc xưa… Qua những hoạt động này, du khách nước ngoài, đặc biệt là các bạn trẻ cảm nhận được rõ nét truyền thống của Hàn Quốc.
 
Ở Hàn Quốc, mỗi vùng, miền đều có nét văn hóa riêng và thể hiện rõ nhất ở trong các lễ hội truyền thống. Vì thế, Hàn Quốc luôn có những gói du lịch đến với lễ hội truyền thống tùy theo từng vùng, từng mùa trong năm.
Hàn Quốc tổ chức định kỳ các sự kiện ở từng địa phương nhằm xúc tiến chương trình nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội, tạo điều kiện cho toàn dân hiểu về giá trị của đất nước mình để người dân thấm nhuần những gì mình đang có, tôn vinh và nghiêm khắc trong ứng xử với di sản của quốc gia. Các cuộc thi sáng tác, thi viết phóng sự các hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn di sản được tổ chức thường xuyên... Nhiều hoạt động thực tế cũng như các bài giảng, đào tạo được đưa đến thanh niên, giúp cho họ hiểu được sự tuyệt vời và tầm quan trọng của di sản vật thể và phi vật thể của quốc gia và từ đó có ý thức tuyên truyền cho cộng đồng quốc tế. Hầu như bất kỳ đại sứ quán nào của Hàn quốc trên thế giới cũng mang đậm tinh thần “Hàn quốc và di sản Hàn quốc”.
Tài sản gắn liền với lịch sử 5.000 năm của Hàn Quốc hiện đã trở thành một phần di sản của nhân loại. Ngày nay người dân và chính phủ Hàn Quốc vẫn đang nỗ lực để bảo tồn và nâng cao hơn nữa những giá trị trong di sản của mình để đóng góp tích cực vào nền văn hóa của thế giới.

 
Nguồn: ichcourier, world.kbs, uskoreainstitute.org