Bản quyền tác giả nhiếp ảnh - một vấn đề lịch sử xã hội

Bản quyền tác giả (BQTG) gồm quyền được tự ghi tên, yêu cầu phải được ghi tên dưới hoặc sau mỗi tấm ảnh và quyền được hưởng thù lao bằng tiền mặt, ngân phiếu hoặc vật chất có giá trị tương đương... thực chất là sự bảo vệ và khẳng định quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân con người trên một thành quả lao động cụ thể. Quyền lợi ấy liên quan tới luật pháp cùng dư luận xã hội có tính truyền thống luôn mang tính lịch sử xã hội cụ thể.

Toàn cảnh Hồ Gươm của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Minh Lộc bị vi phạm bản quyền.Toàn cảnh Hồ Gươm của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Minh Lộc bị vi phạm bản quyền.

Đặt vấn đề xác lập và bảo vệ BQTG vào lúc này là sớm hay muộn?

Sẽ là sớm hoặc rất sớm nếu xã hội chưa tạo ra những điều kiện vật chất và cơ sở xã hội, chưa có ý định và khả năng làm ra điều luật.

Sẽ là muộn đồng nghĩa với vấn đề là BQTG cần phải đặt ra từ rất lâu, từ khi xuất hiện việc chụp ảnh ở Việt Nam hay một lúc nào đó trong giai đoạn sau này.

BQTG như một điều luật bảo vệ giá trị lao động trên một sản phẩm. Vậy một tấm ảnh - một loại hình văn hóa thị giác ở Việt Nam có được coi như một sản phẩm lao động của cá nhân cần được bảo vệ hay không?

Trên thực tế, ở Việt Nam, lâu nay có ba loại nghề ảnh chính: nhiếp ảnh hiếu hỉ (còn gọi là ảnh dịch vụ), nhiếp ảnh tuyên truyền báo chí và nhiếp ảnh tài tử. Đây chỉ là sự nhìn nhận nhiếp ảnh ở tính phổ cập, không động chạm gì tới nhiều loại nhiếp ảnh khoa học khác như hình sự, y tế, thám hiểm…

Là nghề yêu cầu thiết bị cá nhân và chi phí vật tư khá lớn ngay trong một lần tạo ra sản phẩm, rõ ràng trong điều kiện nền kinh tế lạc hậu của Việt Nam, của các nước Đông - Nam Á, một số nước châu Á, không phải khi nào cũng phù hợp cho nhiếp ảnh phát triển, cho sự tiếp cận đều đặn và liên tục với các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ.

Xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ 19 cho tới năm 1975, nhiếp ảnh Việt Nam đã có hơn 100 năm hoạt động trên một quốc gia chưa giành quyền độc lập. Sau năm 1945, với khoảng thời gian độc lập ngắn ngủi, không bao lâu là các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã nối tiếp nhau tiếp tục. Có rất nhiều cuộc chia ly và đoàn tụ. Với một dân tộc mà sức mạnh, truyền thống văn hoá gắn liền với kết cấu làng xã, dòng họ, 3/4 dân số sản xuất nông nghiệp thì nhu cầu lưu giữ những kỷ vật, kỷ niệm trong đó có ảnh kỷ niệm là rất lớn.

Trong ba dòng ảnh nói trên, ảnh kỷ niệm luôn có cơ hội phát triển ở Việt Nam, bên cạnh sự trợ giúp của lối vẽ truyền thần. Ảnh chơi (như một thú vui của người có máy ảnh) hầu như không có, hoặc có rất ít ở Việt Nam trong những năm đất nước có chiến tranh. Trong khi đó, các loại nghề ảnh phục vụ văn hóa, báo chí tuyên truyền có điều kiện phát triển, nhưng là của Chính phủ, của cơ quan, của các đoàn thể, của nhu cầu phục vụ cho các hoạt động quân sự.

Từ năm 1945 đến 1975, ở các tỉnh phía bắc Việt Nam (từ sông Bến Hải trở ra), hầu như chỉ có hoạt động ảnh báo chí, tuyên truyền. Người cầm máy ảnh đều là cán bộ tuyên truyền, là phóng viên ảnh của cơ quan báo chí, nhà xuất bản, hoặc là cán bộ các đơn vị quân đội, cán bộ các ban thi đua, phòng thi đua của các bộ, ngành, địa phương, cơ sở. Do đặc thù chiến tranh, sản phẩm lao động của họ đều được cơ quan quản lý và bảo vệ.

Sự quản lý này trước hết là quản lý ngay người tạo ra sản phẩm, bởi anh ta là cán bộ cơ quan (biên chế chứ không có hình thức hợp đồng như bây giờ), đi đâu, chụp gì, chụp lúc nào, ở đâu đều phải rõ ràng do cơ quan phân công và quản lý. Máy ảnh và vật tư đều không của cá nhân.

Các cơ quan nhiếp ảnh lớn như TTXVN, Báo ảnh Việt Nam (gồm Họa báo Việt Nam và hình ảnh Quân đội), một số báo khác có quy định cấp máy ảnh cho từng cấp phóng viên, quy định số phim được chụp và số phim buộc phải giao về cho cơ quan... Tất cả đều căn cứ bậc lương, uy tín cá nhân tác giả và lòng tin của xã hội. Việc tráng phim và lưu giữ phim do cơ quan đảm nhận. Ở các tờ báo viết sử dụng phóng viên ảnh ít hơn thì buồng tối, máy ảnh, vật tư, chụp và làm ảnh, tất cả cũng đều thuộc về Nhà nước.

Trong các thời kỳ kháng chiến, nhiếp ảnh như một binh chủng chiến đấu, nhà nhiếp ảnh được nhấn mạnh là chiến sĩ văn hóa. Khi ấy, danh hiệu "nghệ sĩ nhiếp ảnh" thấy ít được nói đến, có thể là do không ai đề cập, có thể do không cần đề cập, hoặc có thể nhiều người cho là vô duyên, là vô lối. Niềm mơ ước lớn nhất của người cầm máy bấy giờ là được chụp, sáng tạo cùng nhân dân, trong nhân dân, trong lao động sản xuất, chiến đấu và họ được coi như một chiến sĩ văn hóa của Đảng, "tài sản" của họ ngoài máy ảnh do Nhà nước phát, có khi còn là khẩu súng.

Cũng từ đây, trong quản lý và nhận thức về con người, đã nảy sinh tự phát một thói quen coi nhẹ vai trò sáng tạo cá nhân. Bản thân chủ thể sáng tạo cũng lại rất tự giác chia "trái tim mình thành ba phần tươi đỏ", hòa vào sự bận rộn của chiến tranh. Khi cái quyền lớn nhất của mỗi cá nhân nằm trong thống nhất và hòa quyện với quyền của cả dân tộc; quyền tự do, độc lập... thì hầu như có ai lại nghĩ, hoặc dám nghĩ đến đặt vấn đề bảo vệ sở hữu cá nhân lên hàng quan trọng?

Chuyện BQTG còn liên quan tới giao lưu quốc tế. Vì nhiều lý do, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam từ khi thành lập năm 1965 cho đến những năm đầu 1980 chỉ hoạt động đối ngoại ở mức độ vừa phải, hạn chế.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh kéo dài, việc giao lưu quốc tế bằng ảnh cũng khó khăn. Ảnh ra khỏi Việt Nam hay vào Việt Nam hầu như rất ít. Cũng trong những năm gian khổ đó, lấy đâu ra vài chục cuộc triển lãm được tổ chức như hiện nay, lấy đâu ra nơi treo ảnh triển lãm trưng bày, lấy đâu ra tiền để tổ chức thi cử, có tiền đi kèm theo giải thưởng để đoạt giải "vừa có tiếng, vừa có miếng", giải từ tiền triệu, chục triệu vẫn bị coi là thấp, là chưa đáng để "chơi" như quan niệm và thực tế bây giờ.

Trong hoạt động đào tạo và giáo dục truyền thống cho các nhà nhiếp ảnh Việt Nam trẻ, chúng ta nhắc tới nhiều nhà nhiếp ảnh cao tuổi đã được tôi luyện, thử thách qua các cuộc kháng chiến với những phẩm chất nghề đã được khẳng định. Từ góc độ lịch sử xã hội, cần phải khẳng định những phẩm chất ấy có được từ chính nỗ lực của các tác giả trong điều kiện khắc nghiệt, khó khăn của Tổ quốc đòi hỏi con người phải biết hy sinh quyền lợi cá nhân vì quyền lợi Tổ quốc.

Thật ra, như nhiều nhà nhiếp ảnh cao tuổi, có kinh nghiệm kể lại: "Đó là thời gian sống thật sự thoải mái, chụp không vì giải, vì tên tuổi mà chỉ vì công việc, vì tờ báo. Đương nhiên là có gì chụp nấy, máy nào cũng được".

Lịch sử đã tạo ra một lớp người giàu chất lý tưởng, duy ý chí, nhưng lại biết san sẻ với nhau niềm vui trong thắng lợi, một lớp người, một kiểu tính cách "Khốt ta bít" và "Đông ky sốt" thật thà, lãng mạn, lý tưởng hóa, song rất đáng yêu như ai đó đã nhiều lần nói đến. Tôi không rõ vào những năm gian khổ đó, nêu ra Luật về Bản quyền nhiếp ảnh liệu có nên không?

Lịch sử sang trang, Tổ quốc đã thống nhất, kinh tế - xã hội phát triển, quan hệ mở rộng, người chụp tha hồ sắm máy ảnh, phim chụp, được khuyến khích chụp, khuyến khích thi cử, đoạt giải vừa có tên tuổi vừa có cả tiền. Chính sách của Đảng và Nhà nước là khuyến khích và coi trọng, bảo hộ giá trị lao động sáng tạo cá nhân. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khi khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận và đối xử bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, xã hội rất cần có Luật Bảo vệ Quyền sáng tạo và sở hữu trí tuệ.

Tới lúc này, đặt vấn đề về Bản quyền tác giả Nhiếp ảnh là cần thiết, có thể chưa hoàn thiện ngay, nhưng cần phải làm, từ việc đặt ra các nguyên tắc cơ bản trong đó chú ý giải quyết thỏa đáng các vấn đề lịch sử để lại theo quan điểm biện chứng những tồn đọng của các thời kỳ lịch sử.

Do đặc điểm lịch sử, hoạt động nhiếp ảnh có mấy loại quản lý: Nhà nước, cá nhân, lại có hình thức vừa Nhà nước, vừa cá nhân trong một cơ quan, nên khi xem xét cũng phải rạch ròi. Thí dụ: TTXVN phát cả máy ảnh, cả phim chụp, trả lương cho cán bộ, cho ô-tô đi chụp ảnh, cơ quan lo tráng phim, làm ảnh, vậy bản quyền nên xử lý như thế nào? Ở Báo ảnh Việt Nam, cơ quan phát máy ảnh, cơ quan có lúc phát phim, lúc không phát, anh em chụp ảnh bằng phim và máy do cá nhân trang bị, giải quyết bản quyền ra sao? Có cơ quan báo chí hay truyền thông lại chỉ phát lương chứ không phát máy ảnh, phim, vậy nhuận ảnh và ghi tên tác giả dưới mỗi bức ảnh thế nào cho phải?

Lại một vấn đề nữa! Nếu xác định BQTG thì tác giả đã có quyền ghi tên thì vì sao lại không có quyền bỏ tên (nếu muốn). Có thể bán bản quyền toàn bộ không? Chế độ mua bản quyền toàn bộ (xóa tên) hay mua một nửa (giữ tên trên ấn phẩm) như thế nào…?

BQTG, vì thế là vấn đề xã hội khá phức tạp, nhạy cảm, cần có sự cân nhắc rất chi tiết trước khi ra các điều luật.

 

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác