Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan hiện nay ở Việt Nam

(Cinet) - Bảo hộ bản quyền tác giả và quyền liên quan tại Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý của cấp, ngành chức năng. Về vấn đề này, tại Hội nghị tổng kết công tác ngành VH,TT&DL năm 2009 diễn ra vừa qua, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, Vũ Ngọc Hoan đã có bài tham luận, trong đó dặt ra những vấn đề sau: .

Ảnh minh hoạẢnh minh hoạ

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan

Sự kiện nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã mở ra cơ hội to lớn cho sự nghiệp phát triển đất nước, nhưng đồng thời chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là việc tuân thủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan. Cho đến nay, chúng ta đã tham gia năm điều ước quốc tế liên quan đến bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, đó là: Công ước Bern bảo hộ các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật; Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép bản ghi âm không được phép của họ; Công ước Brussel liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh; Công ước Roma bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng; và Hiệp định về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) trong hệ thống các hiệp định của WTO.

Luật Sở hữu trí tuệ của nước ta ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới ba đối tượng của sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả và quyền liên quan. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã tương thích với các điều ước quốc tế, tương thích với các chuẩn mực bảo hộ của các nước trên thế giới. Các luật chuyên ngành như Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Di sản văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Quảng cáo và Pháp lệnh Thư viện có các quy định liên quan, phù hợp với từng ngành. Bộ luật Hình sự, Luật Hải quan, Pháp lệnh Xử phạt hành chính cũng có các quy định quan hệ tới quyền tác giả và quyền liên quan tùy theo tính chất và phạm vi điều chỉnh của mỗi luật. Như vậy, các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả và quyền liên quan đã được ban hành tương đối đồng bộ, có hệ thống, đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền tác giả và quyền liên quan tại nước mình và tạo môi trường pháp lý cho hội nhập quốc tế.

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ. Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chủ tịch nước đã ký lệnh số 12/2009/L - CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đã giải quyết được các vấn đề bất cập về pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, thể chế hóa Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội. Việc sửa đổi và bổ sung lần này đáp ứng các yêu cầu phát sinh của thực tiễn, thỏa mãn các nội dung của các Điều ước quốc tế mà nước ta đã tham gia, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam bình đẳng với các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ của các nước thành viên các Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ sẽ góp phần quan trọng trong việc phát huy năng lực sáng tạo, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư để phát triển đất nước. Để hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, sẽ có 4 Nghị định do các Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả và quyền liên đã có hiệu lực từ ngày 30/6/2009 có quy định phạt tiền tới 500 triệu đồng đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động sao chép (in, nhân bản) xuất bản phẩm và hành vi xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động phân phối xuất bản phẩm. Ngoài ra, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm còn phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu hàng hoá vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện và thiết bị được sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hoá vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan; đình chỉ hoạt động kinh doanh từ 3 đến 6 tháng. Các tổ chức, cá nhân vi phạm cũng phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như dỡ bỏ bản sao tác phẩm dưới hình thức điện tử trên mạng Internet, trong các thiết bị điện tử tin học. Bộ Luật hình sự (sửa đổi, bổ sung) cũng quy định tại điều 170a về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, cụ thể xử phạt đối với những người không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà thực hiện các hành vi sao chép “với quy mô thương mại” tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình hoặc phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, ghi hình xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam thì bị phạt tiền từ 50 triệu đến 500 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 2 năm. Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp “có tổ chức” hoặc “phạm tội nhiều lần” thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Tình hình thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam

Trong những năm qua, chính sách bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đã phát huy tác dụng tích cực. Hầu hết các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa - thông tin, từ báo chí, xuất bản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình đến phát thanh, truyền hình đều đã có ý thức tôn trọng quyền tác giả và quyền liên quan khi khai thác, sử dụng tác phẩm. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã có các chương trình triển khai thực thi cụ thể, hiệu quả. Nhiều chủ thể quyền đã áp dụng các biện pháp để tự bảo vệ quyền của mình. Các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan đã được hình thành và đã có các hoạt động tích cực, hiệu quả.

Tuy nhiên, hiện nay, tại Việt Nam, mức độ vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan vẫn còn cao. Các hành vi in lậu văn hóa phẩm, sử dụng các tác phẩm âm nhạc mà không trả tiền cho chủ sở hữu, sử dụng các chương trình máy tính không có bản quyền và các hành vi xâm phạm tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa, và những hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan khác vẫn diễn ra tương đối thường xuyên. Tình trạng vi phạm bản quyền này đã gây thiệt hại cho chủ thể quyền và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, hợp tác kinh tế - văn hoá với các nước trên thế giới. Vi phạm bản quyền trong tất cả các lĩnh vực đang diễn ra rất phức tạp. Theo đánh giá của một số tổ chức theo dõi về sở hữu trí tuệ của thế giới thì tỷ lệ vi phạm bản quyền tại Việt Nam còn cao, nhất là trong các lĩnh vực băng đĩa âm nhạc, phần mềm máy tính và xuất bản.

Nguyên nhân của tình trạng nói trên trước hết là do nhận thức về quyền tác giả, quyền liên quan của của nhiều tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng tác phẩm còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật quyền tác giả, quyền liên quan chưa nghiêm túc. Ngoài ra, hệ thống thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan của các cấp, các ngành còn chưa đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Để bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật Việt Nam, các cam kết quốc tế về bảo hộ chương trình máy tính, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 04/2007/CT/TTg về tăng cường bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Chỉ thị của Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo và có các biện pháp cụ thể để bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính; dự toán ngân sách hàng năm về việc mua bản quyền chương trình máy tính cho các đơn vị trực thuộc; có kế hoạch từng bước xử lý các chương trình máy tính không có bản quyền hợp pháp tại các cơ quan, đơn vị, ngành, địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Tỷ lệ vi phạm bản quyền chương trình máy tính đã giảm mỗi năm khoảng 3%.

Ngày 31/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng, tổ chức các hội nghị quán triệt Chỉ thị tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Huế. Tham dự hội nghị có trên 200 đại biểu đại diện cho các cơ quan thuộc Bộ VHTTDL, các Sở VHTTDL, các tổ chức quản lý tập thể QTG, QLQ, các cơ quan liên quan và các cơ quan thông tấn, báo chí. Cục Bản quyền tác giả đã phối hợp với Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch và Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam cùng các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Ninh, …) để phổ biến và triển khai thực hiện Chỉ thị số 36/2008, đồng thời giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Thanh tra ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng có kế hoạch thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng và đã tiến hành nhiều cuộc kiểm tra và xử phạt các vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Hội Nhà văn Việt Nam đã xây dựng xong “Đề án tăng cường năng lực quản lý và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực văn học Việt Nam” để trình Chính phủ.

Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa về kinh tế, văn hóa và cũng là thời đại bùng nổ thông tin và công nghệ, mà ở đó các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được pháp luật bảo hộ đều có thể tồn tại trong môi trường kỹ thuật số nên người ta dễ dàng sao chép, dễ dàng phổ biến và dễ dàng lưu trữ chúng. Cuộc cách mạng kỹ thuật trong phương thức tái bản, sao chép, lưu trữ thông tin bằng số hóa bao gồm cả các tác phẩm được bảo hộ quyền đã tạo ra hai mặt đối lập nhau. Một mặt, nó giúp cho tác giả có thể quảng bá tác phẩm của mình tới đông đảo công chúng một cách nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm hơn nhiều so với trước đây. Mặt khác, tiến bộ công nghệ này cũng tạo cơ hội cho việc phát sinh các hình thức khai thác và sử dụng bất hợp pháp mới. Thách thức trong vấn đề bản quyền ở kỷ nguyên kỹ thuật số là làm sao có thể bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan trong việc sử dụng công nghệ mới để sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm của mình trong khi phải đối mặt với nạn khai thác và cạnh tranh bất hợp pháp ở khắp mọi nơi. Đó cũng là thách thức trong việc tự bảo vệ quyền của các chủ thể quyền, đồng thời cũng là thách thức đối với các cơ quan quản lý và thực thi về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan. Để hoàn thiện cơ chế pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường số, chúng ta đang xây dựng Thông tư liên tịch giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trách nhiệm về quyền tác giả và quyền liên quan của tổ chức, cá nhân cung cấp, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và Internet.

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi các quy định của pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ

- Xây dựng khung pháp lý đầy đủ để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến thực thi QTG, QLQ trên các lĩnh vực, nhất là trong môi trường kỹ thuật số và Internet;

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về QTG, QLQ cho các đối tượng để nâng cao kiến thức và ý thức chấp hành pháp luật thông qua hình thức tập huấn, hội thảo các chuyên đề về QTG, QLQ;

- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành hữu quan, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra  và xử lý các hành vi xâm phạm QTG, QLQ, nhất là ở các tỉnh, thành phố lớn, và các tỉnh có đường biên giới quốc gia; cần kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm, có thể đưa ra Tòa án một số vụ vi phạm nghiêm trọng, truy cứu trách nhiệm hình sự để răn đe;

- Tăng cường cán bộ, chuyên gia về quyền tác giả, quyền liên quan cho các cơ quan quản lý và thực thi quyền quyền tác giả, quyền liên quan. 

- Tăng cường năng lực quản lý tập thể và thực thi của 3 Tổ chức quản lý tập thể QTG, QLQ, đồng thời xúc tiến việc triển khai thành lập Hiệp hội Bản quyền Việt Nam và các tổ chức đại diện quyền tác giả khác để hỗ trợ cho công tác thực thi QTG, QLQ; 

- Thực hiện nghiêm túc các Điều ước quốc tế đa phương và song phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập;

- Có chính sách thi đua, khen thưởng kịp thời cho các cán bộ, công chức có thành tích cao trong công tác bảo hộ QTG, QLQ.

 

(Vũ Ngọc Hoan - Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả)

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác