Bảo vệ bản quyền phần mềm Việt Nam: Những cải thiện rõ nét

Bằng nhiều biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, khuyến cáo tới thanh, kiểm tra và mạnh tay xử lý, tới nay, có thể nói vấn đề vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể.

Bảo vệ bản quyền phần mềm Việt Nam: Những cải thiện rõ nét - ảnh 1

Đánh giá sau 1 năm thực hiện Bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác và điều phối trong bảo hộ tác quyền phần mềm ở Việt Nam, ông Phạm Tấn Công - Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam Vinasa cho rằng đã có những chuyển biến thực sự.

Nếu như dăm bảy năm trước đây, thực trạng vấn đề bản quyền phần mềm Việt Nam được người ta nhắc tới như một câu chuyện châm biếm, Việt Nam đứng đầu thế giới trong một vài lĩnh vực trong đó có vấn đề vi phạm bản quyền phần mềm bởi một thời gian dài luôn đứng ở trong top 10 dẫn đầu thế giới về vi phạm bản quyền phần mềm thì nay, tình hình đã rất khác.

Cách đây một năm kế hoạch khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm đã được Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch cùng Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Vinasa, Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) phối hợp thực hiện nhằm cùng góp phần hạ thấp mức vi phạm xuống. Mọi hoạt động được triển khai trên cơ sở các biện pháp thuyết phục, khuyến cáo, giáo dục nâng cao nhận thức và chỉ sử dụng những biện pháp quyết liệt trong trường hợp cần thiết. 

Các bên đều đồng ý với quan điểm và lộ trình thực hiện như vậy. Kết quả quan trọng đã đạt được có thể kể tới đó là số lượng phần mềm có bản quyền được sử dụng trong xã hội được tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ vi phạm bản quyền đã hạ xuống rõ  rệt. Các doanh nghiệp nhận được nhiều giấy phép bản quyền hơn.

Cùng với đó, nhận thức, ý thức xã hội về vấn đề tôn trọng bản quyền phần mềm được nâng lên rõ rệt trong khối các doanh nghiệp, điển hình là các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã dành cả phần chi phí cho mua bản quyền phần mềm trong ngân sách hàng năm của họ. Như vậy vấn đề nhận thức chủ động trong vấn đề bản quyền phần mềm đã được nâng lên.

Cái được nữa là các công ty phần mềm Việt Nam đã quan tâm trở lại việc đầu tư phát triển các sản phẩm phần mềm phục vụ nhu cầu trong nước. Khoảng 5-7 năm trước đã có nhiều doanh nghiệp hồ hởi triển khai xây dựng các phần mềm phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước song sau đó đã bị nhụt chí vì nạn ăn cắp bản quyền.

Theo ông Phạm Tấn Công, qua sự hợp tác này thế giới cũng sẽ nhìn thấy được sự thiện chí của Việt Nam và quyết tâm của Việt Nam trong việc khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm. Từ đó nâng hình ảnh quốc gia và tính hấp dẫn của Việt Nam trong việc hợp tác đầu tư.

Trong bảng xếp hạng Chỉ số Cạnh tranh Công nghệ Thông tin Toàn cầu trong năm 2009 mà Cơ quan Tình báo Kinh tế (EIU) được tài trợ bởi BSA công bố hôm qua, 6/10, mặc dù không có những số liệu cụ thể về tình hình vi phạm bản quyền của các quốc gia, song cũng đã dành một số câu đánh giá. Theo đó, Việt Nam cũng ghi nhận được những tiến bộ tuy chậm nhưng vững chắc trong hoạt động bảo vệ sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trong lĩnh vực thực thi.

Theo ông Phạm Tấn Công, một trong những lý do dẫn tới nạn vi phạm bản quyền phần mềm là từ chính sách giá. Gốc của câu chuyện vi phạm bản quyền phần mềm xuất phát từ sự chênh lệch mức sống quá cao giữa các quốc gia công nghiệp và các quốc gia đang phát triển trên thế giới. 

Sản phẩm phần mềm có đặc điểm khác với một số sản phẩm khác. Nếu như giá của các sản phẩm khác có thể thay đổi khác nhau ở mỗi quốc gia thì riêng sản phẩm phần mềm là một sản phẩm được các nhà cung cấp sản phẩm phần mềm phải áp dụng chính sách một giá dù ở quốc gia kinh tế phát triển hay đang phát triển, chậm phát triển đều như nhau. Chính sách một giá thể hiện sự bất cập. Có thể với nước này giá của một sản phẩm phần mềm là bình thường nhưng ở quốc gia khác nó lại quá xa xỉ.

Thời gian dài nước ta nằm trong nhóm các nước có tỷ lên vi phạm bản quyền phần mềm lớn nhất thế giới. Chính vì vậy, câu chuyện bản quyền phần mềm không nên nó chỉ ở góc độ kinh tế thuần tuý mà nó mang cả tính chất kinh tế, văn hoá, xã hội trong đó luật pháp chỉ là một yếu tố.

Muốn khắc phục vấn đề vi phạm bản quyền phần mềm cần có lộ trình, và lộ trình đó phải phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia, phù hợp với việc nâng cao nhận thức của xã hội, đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm địa phương. Ngành công nghiệp phần mềm địa phương có phát triển thì quyền lợi của quốc gia đó, địa phương đó mới gắn với vấn đề bảo vệ bản quyền phần mềm.

Với Việt Nam, có thể khẳng định, hệ thống luật pháp Việt Nam để bảo vệ sở hữu trí tuệ đã khá đầy đủ. Liên tục từ những tháng giữa năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã có những văn bản luật pháp nhằm siết chặt việc bảo vệ bản quyền phần mềm máy tính.

Gần đây nhất, Nghị định 47/NĐ-CP có hiệu lực từ 30/6/2009 thay cho Nghị định 56/NĐ-CP trước đây ngoài việc xác định hành vi, các mức phạt cũng được tính theo giá trị phần mềm bị vi phạm với mức xử lý lên tới 500 triệu đồng thay vì 15 đến 20 triệu đồng như Nghị định . Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự cũng đã sửa đổi, bổ sung nhiều điều khoản khiến việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Công tác kiểm tra, khuyến cáo sẽ tiếp tục được thực hiện. Cùng với một cơ chế pháp lý đủ mạnh, những người làm công tác sở hữu trí tuệ tin rằng, tình hình vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam sẽ tiếp tục được cải thiện rõ nét trong thời gian tới.

 

Theo VnM

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác