Nghịch cảnh chuyện bản quyền âm nhạc

Kế thừa, sao chép, vay mượn, bắt chước, cóp, nhái, đạo, thuổng, chôm... dù mang nghĩa bóng hay nghĩa đen, nghĩa tốt hay xấu, thì cả loạt từ này ít nhiều đều liên quan đến hiện tượng “tái sử dụng” chất liệu đã có, đến sự chuyển giao vô thức và có ý thức từ văn bản trước sang văn bản sau, từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu nọ.

Hợp tác phòng chống tội phạm công nghệ cao giữa cảnh sát Việt Nam và cảnh sát AustrauliaHợp tác phòng chống tội phạm công nghệ cao giữa cảnh sát Việt Nam và cảnh sát Austraulia

Ranh giới khó phân

Sự sáng tạo trong mọi lĩnh vực đều dựa trên kế thừa. Nếu cái tài của người sáng tác là biết kế thừa có sáng tạo thì cái khó của người thi hành luật là biết phân định giữa kế thừa đáng khích lệ với sao chép vi phạm bản quyền. Sự kiểm định chắc chắn phải cần đến hội đồng chuyên ngành, trong đó vai trò của lý luận âm nhạc chuyên nghiệp rất lớn.

Thế nhưng cho đến nay luật bản quyền vẫn chỉ là “chuyện riêng” của giới sáng tác và gần như chưa đụng chạm đến giới nghiên cứu phê bình. Chúng ta luôn bỏ qua hiệu quả của lý luận âm nhạc chuyên nghiệp trong những vấn đề mang tính xã hội.

Chúng ta cũng chưa thấy hết hậu quả của những câu chuyện liên quan đến hiện tượng sao chép trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình âm nhạc. Cóp nhặt, xào xáo không phải chuyện hiếm trong bình luận và phân tích âm nhạc trên báo chí cũng như trong luận văn chuyên ngành, nhưng chưa bao giờ bị coi là nghiêm trọng đến mức cần phải phạt.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực lý luận còn khó hơn trong sáng tác nên xưa nay vẫn chỉ có cách duy nhất là dựa vào lòng tự trọng và khả năng tự kiểm soát của người cầm bút. Một thứ luật “bất thành văn” chỉ hiện hữu nhờ đạo đức nghề nghiệp như thế liệu có bền lâu và có hiệu lực đến đâu còn phụ thuộc vào cả quá trình giáo dục và đào tạo.

Trẻ nhỏ vẫn tập làm văn theo kiểu thụ động thuộc lòng văn mẫu và dàn ý bắt buộc, còn sinh viên viết tiểu luận hay luận án tốt nghiệp chủ yếu vẫn vay mượn chắp vá và không tự giác nghiêm ngặt trong việc chú thích trích dẫn. Từ hiện trạng này đồ rằng tương lai sẽ còn nhiều nghịch cảnh bất lợi cho các nhà nghiên cứu phê bình âm nhạc vốn quen được bật đèn xanh trong việc đạo văn, đạo ý tưởng, nhưng ra đời lại phải gánh lấy trọng trách bật đèn đỏ trước hành vi đạo nhạc.

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong âm nhạc khó đạt hiệu quả mong muốn khi chưa có sự tuyên truyền thông tin đầy đủ. Nội dung các điều khoản trong luật ra sao vẫn còn mơ hồ ngay cả với những người được hưởng quyền tác giả và quyền liên quan.

Dân nghệ sĩ vốn ngại rắc rối phiền hà với các thủ tục hành chính, chắc chẳng mấy ai chịu mất công chủ động tìm hiểu cặn kẽ về luật bản quyền, về hệ thống cơ quan Nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả. Khi phát hiện sự vi phạm, đa phần họ không biết kêu ai, đệ đơn đến đâu, chọn cơ quan cấp nào cho đúng thẩm quyền, thành ra cứ mặc kệ cho qua còn hơn dính vào vụ việc khó lường hết thiệt hại về tài chính và thời gian, chưa kể đến tổn thất về sức lực và tinh thần.

Sự thiếu hiểu biết luật chẳng những dễ dẫn đến hiện tượng vi phạm luật, mà còn làm người trong cuộc tranh cãi không phân thắng bại, công chúng thì hoang mang chẳng biết đâu mà lần, còn người cầm cân nảy mực càng thêm rối và khó đưa ra phán xét cuối cùng thỏa mãn cho mọi đối tượng.

Đương đầu với cái khó

Có thể thấy luật bản quyền chưa thực sự đi vào nếp nghĩ của giới sáng tác, ngay đến đối tượng được bảo hộ cũng chẳng mấy trông chờ vào tính thiết thực của việc thi hành luật. Nhiều khi mong muốn phổ cập sáng tác còn mạnh hơn quyền lợi vật chất, đôi lúc quyền lợi vật chất lại có ý nghĩa hơn danh tiếng. Khi đặt mục đích quảng bá tác phẩm lên trên hết, chính các tác giả ít bận tâm đến thiếu sót trong thực hiện quyền tác giả.

Dù các đài truyền hình chưa trả nhuận bút thông qua Trung tâm bảo vệ quyền tác giả cho những tác phẩm được dùng trong chương trình ca nhạc của đài, dù các ca sĩ không phải ai cũng tự nguyện tự giác trích phần trăm thù lao cho nhạc sĩ sáng tác, mà quản lý việc chạy “sô” của họ là điều không thể, thế nhưng phần lớn các tác giả vẫn cứ hồ hởi vui thích nếu biết tác phẩm được sử dụng.

Vai trò của tác giả lời ca và nhạc sĩ phối khí bắt đầu được nhắc nhở, nhưng họ đã quá quen với sự thiệt thòi trong quyền lợi đồng tác giả. Với nhà thơ hình như niềm vui thấy bài thơ của mình được phổ nhạc luôn lớn hơn nỗi buồn bị “xù” khoản nhuận bút cho lời ca. Còn nhạc sĩ phối khí nhận đủ thù lao cho phần hòa âm rồi thì chẳng thắc mắc gì về danh nghĩa đồng tác giả của mình.

Nếu ý thức rõ quyền hưởng nhuận bút luôn gắn liền với quyền đứng tên ở vị trí đồng tác giả, tức là được công khai “thương hiệu” và hoàn toàn chấm dứt tình trạng nhập nhằng “áo gấm đi đêm” đối với bản phối khí hay, thì chắc chắn người phối khí phải cố giữ “tiếng” cho mình hơn và trách nhiệm lúc đó mới thực sự đi đôi với quyền lợi.

Tính chất phức tạp và đa diện của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong âm nhạc đòi hỏi sự phối hợp liên ngành và hơn thế nữa, sự hợp tác liên quốc gia. Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, điều chỉnh, hoàn thiện và phổ cập văn bản pháp lý, nâng cao nghiệp vụ chuyên ngành cho người làm luật trong lĩnh vực âm nhạc... quả thật có vô số điều cần làm ngay.

Chẳng còn lựa chọn nào ngoài cách đối mặt đương đầu với mọi cái khó, nếu chúng ta muốn gìn giữ môi trường âm nhạc trong sạch bằng ý thức tôn trọng nhân quyền trong sáng tạo.

Theo ANTĐ

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác