Tôn trọng quyền sở hữu âm nhạc dân gian

Vốn di sản âm nhạc dân gian Việt Nam đang được quan tâm bảo vệ, giữ giữ và phát huy, song việc công nhận tính pháp lý quyền sở hữu nó lại chưa có văn bản pháp luật nào quy định.

Tôn trọng quyền sở hữu âm nhạc dân gian - ảnh 1

Sử dụng tùy tiện
Chủ nhân của nền âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam là những người nông dân sống trong những công xã làng xóm. Nền âm nhạc này là kết quả sáng tạo từ nhiều thế hệ, truyền từ đời này qua đời khác bằng hình thức truyền miệng. Vì thế âm nhạc dân gian được coi là sở hữu của toàn cộng đồng và mỗi thành viên đều có quyền sử dụng, khai thác vốn di sản này. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là tâm lý xem vốn di sản này là “của chùa” nên xảy ra tình trạng sử dụng tùy tiện và cũng không quan tâm đến việc ai là chủ sở hữu của loại hình này. Nhiều tổ chức thu thanh, ghi hình nghệ nhân chỉ trả chút thù lao ít ỏi mà không trả tác quyền vẫn rất phổ biến. Sau đó họ “thả cửa” dùng tài liệu này mà quên đi người sáng tạo ra nó. Nhiều hình thức du lịch cũng khai thác tối đa “nguồn lợi” này nhưng nghệ nhân chỉ được nhận một khoản tiền “bồi dưỡng” mà thôi. 
Bên cạnh đó, một số nghệ sỹ sử dụng âm nhạc dân gian làm chất liệu sáng tác nhưng lại nhân danh được đào tạo chuyên nghiệp, tự cho mình cái quyền quay lại “làm giàu”, “cách tân” thêm cho vốn âm nhạc dân gian, khiến không ít “sáng tạo” không dùng được, việc “cải tiến” hóa ra thành “cải lùi”; Thậm chí ít nhiều làm biến dạng hình thức và sai lệnh về nội dung của vốn văn hóa này. Việc sử dụng hình thức “bình cũ rượu mới” khiến nhiều bài hát bị bỏ lời hát cổ và thay bằng lời ca mới, thậm chí sao chép nhiều khi làm hỏng vẻ đẹp vốn có của nguyên bản. “Cải tiến” nhạc cụ dân gian cho hiện đại và đa năng hơn còn bằng cách thành lập dàn nhạc cụ dân tộc theo công thức giàn nhạc giao hưởng phương Tây. Ví như quan họ xưa trọng chất lượng giọng hát “rền- vang- nền- nảy” và hát đối đáp, giao duyên nên không cần nhạc đệm; Nhưng nay quan họ được đưa lên sân khấu với một dàn nhạc đệm theo lối phối âm, phối khí của phương Tây… Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, Ts Vũ Mạnh Chu cho rằng, điều này xuất phát từ việc nhận thức không đúng và thái độ đối xử không công bằng đối với âm nhạc dân gian nói riêng và di sản văn hóa phi vật thể nói chung. 
Quyền sở hữu thuộc về ai?
Để khích lệ việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy nền văn hóa nghệ thuật cổ truyền thì vấn đề bản quyền bộ phận nghệ thuật phi văn bản này cần được coi trọng. Tuy nhiên, việc xác định chủ sở hữu là vấn đề khó. Theo kinh nghiệm từ Hội Văn nghệ dân gian, GS. TSKH Tô Ngọc Thanh cho rằng có ba thực thể và cá nhân tham gia vào sở hữu âm nhạc dân gian là: Cộng đồng công xã (làng là chủ sở hữu trên vốn âm nhạc dân gian của làng mình. Trường hợp nhiều làng có cùng một loại hình âm nhạc nhưng cách thể hiện không hoàn toàn giống nhau vẫn được công nhận có vốn âm nhạc riêng), nghệ nhân và những người thực hành (gồm lớp nghệ nhân “mới”, các nhà sưu tầm, nghiên cứu. Họ sở hữu những tư liệu sưu tầm được, có công “vật chất hóa- hiện thực hóa” những giá trị âm nhạc dân gian vốn chỉ được lưu giữ trong trí nhớ).
Về nguyên tắc, chủ sở hữu có tính pháp lý của âm nhạc dân gian thực ra là toàn thể cộng đồng. Nhưng nhờ tài năng, sự hiểu biết sâu rộng về âm nhạc dân gian nên các nghệ nhân và lớp nghệ nhân “mới” có công lớn trong việc lưu giữ và truyền đạt di sản này đến ngày nay. “Báu vật nhân văn sống” này không chỉ có khả năng trình diễn thành thạo với kỹ năng cao nhất vốn cổ, mà họ còn sáng tạo, làm giàu thêm cho vốn ấy, như: Tiếng sáo dọc (đinh buốt) quyễn rũ của Y Mip Ayun (dân tộc Êđê); Tiếng đàn dây kéo Ot đồng của Y Baih (dân tộc Bahnar) mà mỗi lần thu thanh là một lần nghệ nhân sáng tạo nhiều phiên bản “tác phẩm mới”. Hay như tiếng hát, tiếng phách của đào nương ca trù Quách Thị Hồ được thu thanh kỹ lưỡng và truyền bá rộng rãi ra thế giới. Người ta tìm thấy trong tiếng hát ấy một sáng tạo độc đáo với lối “hát đổ hột”- lối hát được Gs Trần Văn Khê gọi là “tiếng những hạt châu rơi”… Theo nhạc sỹ Đặng Hoành Loan, nếu chúng ta đánh giá những bản nhạc do Y Mip Ayun, Y Baih, các bản cổ nhạc ca trù của Quách Thị Hồ… trình diễn mang tính sáng tạo cá nhân thì đương nhiên chúng ta phải có bản quyền cho họ.
Để thể hiện sự tôn trọng quyền sở hữu âm nhạc dân gian, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngoài việc quy định khung thù lao chi trả cho các loại sở hữu theo tỷ lệ phần trăm và tiến hành phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian thì công tác bảo trợ để duy trì và truyền dạy di sản này cần được coi trọng. Tuy nhiên, điều cơ bản vẫn là ý thức và sự tri ân của người sử dụng đối với những di sản quý báu mà cha ông để lại.

Theo NĐB

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác