Tranh giả làm nhiễu thị trường

Nhiều năm qua, nạn tranh giả, sao chép tranh tồn tại như một thực tế hiển nhiên làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền mỹ thuật nước nhà. Nhưng, dường như so với các "vấn nạn" khác như băng đĩa, sách lậu, "đạo" nhạc..., nó vẫn chưa thật sự được các cơ quan có thẩm quyền chú trọng xử lý và bản thân giới sáng tác lên tiếng đấu tranh, bảo vệ mình.

Một cửa hàng tranh ở Hà Nội.Một cửa hàng tranh ở Hà Nội.

Bùng nổ các phòng tranh và nạn sao chép tranh

Không thể thống kê hết trên các đường phố khu vực trung tâm như Hàng Bông, Hàng Trống, Tràng Tiền... (Hà Nội) và Ðồng Khởi, Nguyễn Văn Trỗi, Nam Kỳ Khởi Nghĩa... (TP Hồ Chí Minh) có tất cả bao nhiêu phòng tranh (gallery) tư nhân đang hoạt động hằng ngày. Ðấy là chưa kể đến các thành phố du lịch nổi tiếng khác như Huế, Hội An... Ở đó, bắt gặp vô số những phiên bản tác phẩm nổi tiếng của các họa sĩ tiền bối như Nguyễn Sáng, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Trần Văn Cẩn… đến lớp họa sĩ mới có tên tuổi như Ðào Hải Phong, Lê Thanh Sơn, Lê Thiết Cương... Tranh "copy" nguyên bản cũng có, tranh "nhái" thêm chỗ nọ bớt chỗ kia theo lối "ảnh hưởng phong cách" càng không phải là ít.

Những cửa hàng, phòng tranh công khai như thế nhan nhản khắp nơi, phục vụ khách du lịch và nhu cầu của lớp công chúng dễ tính, ít kiến thức hội họa, hoặc túi tiền vừa phải. "Tác giả" các sản phẩm ở hệ thống  phòng tranh này thường là những sinh viên mỹ thuật hoặc đơn giản chỉ là "thợ", không qua trường lớp đào tạo nào, chỉ cần có khả năng bắt chước như thật. Họ thường "sản xuất" theo đơn đặt hàng của chủ phòng tranh với mức giá mỗi bức vài trăm nghìn đồng, hoặc cao hơn nữa, tùy theo giá trị của tác phẩm gốc. Còn chủ phòng tranh thì có thể đút túi tiền triệu, có khi hàng chục triệu mỗi ngày.

Tinh vi, nguy hiểm, dễ lừa dối khách hàng và thu được nhiều lợi nhuận hơn lại là một số phòng tranh chuyên bán tranh "nguyên bản". Họ thường có nhiều "chiêu" như treo tranh thật cạnh tranh giả, in thành sách, tham gia triển lãm, đấu giá ở nước ngoài và lập cả trang thông tin điện tử riêng để bán qua mạng. Thật giả lẫn lộn, còn người mua thì không phải ai cũng đủ trình độ, kiến thức hội họa để thẩm định, nên mất tiền oan là chuyện thường. Thậm chí ngay cả giới chuyên nghiệp cũng có lúc bị lừa.

Trong một số cuộc đấu giá nghệ thuật ở nước ngoài, tranh Việt Nam từng có lẫn hàng "dởm" qua mặt cả đội ngũ chuyên gia am hiểu hội họa, giàu kinh nghiệm, giỏi thẩm định của các công ty đấu giá. Năm 1999, nhà đấu giá danh tiếng thế giới Christine (Anh) từng cho thu hồi hai bức tranh giả của Nguyễn Sáng và Bùi Xuân Phái. Sự kiện đó đã làm giảm uy tín của hội họa Việt Nam. Chính vì vậy mà một số công ty đấu giá tên tuổi của Pháp, Singapore... đều dè dặt không dám bảo lãnh tranh Việt Nam với khách hàng tại nhiều cuộc đấu giá.

Tại một số triển lãm, giải thưởng trong nước, cũng từng có lúc tác giả "đạo tranh" đoạt giải gây xôn xao dư luận. Ðó là trường hợp tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2005, tác phẩm đoạt Huy chương đồng Bình minh trên công trường của LVT sao chép gần như nguyên bản tác phẩm Ðội lao động của họa sĩ người Nga M.O. Cuznhexov. Khi sự việc được phát hiện, Ban tổ chức đã thu hồi giải thưởng, tác giả phải lên tiếng xin lỗi công chúng và đồng nghiệp.

"Tiên trách kỷ..."

Xu thế thương mại hóa nghệ thuật và mục đích lợi nhuận của những người buôn tranh chính là nguyên nhân gây nên "đại nạn" tranh giả. Ðiều đó là quá rõ. Một bức tranh của họa sĩ nổi tiếng giá đến cả hàng nghìn, thậm chí vài chục nghìn USD, nhưng chi phí trả cho người chép chẳng đáng là bao.

Cũng chính vì lợi nhuận mà những người sao chép tranh, trong đó có sinh viên mỹ thuật và họa sĩ đã tiếp tay cho các chủ phòng tranh sản xuất hàng loạt  tranh chép và nhái phong cách.

Rất nhiều sinh viên còn đang theo học hoặc đã ra trường chưa có việc làm ổn định coi đây là một nghề kiếm sống, chấp nhận để nhà buôn kiếm tiền trên công sức của mình. Nguyễn Kh., quê Nghệ An, sinh viên năm cuối Ðại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội mấy năm nay chuyên "sản xuất" theo đặt hàng của một phòng tranh trên phố Hàng Bông thành thật: "Em cũng biết đây là hoạt động không đúng với tư cách của người làm nghệ thuật, nhưng vì cần có thêm tiền để ăn học, hơn nữa thấy bạn bè làm được thì mình cũng làm"...

Một số họa sĩ, dẫu ít và kín đáo hơn, cũng tham gia với trình độ, tay nghề và công nghệ cao hơn để làm ra những tranh giả bán giá thật. Vì lợi nhuận, họ đã tự sao chép lại chính tác phẩm cũ của mình, hoặc nhái theo phong cách và đề tài của các họa sĩ nổi tiếng đang ăn khách theo đơn đặt hàng của các phòng tranh hoặc người mua có nhu cầu.

Nhiều người trong giới mỹ thuật Hà Nội từng hài hước nói rằng, sau khi danh họa Bùi Xuân Phái mất đi, các tác phẩm "mới tìm thấy" của ông được công bố ngày càng nhiều. Còn ở TP Hồ Chí Minh, tranh của họa sĩ Ðỗ Quang Em được L.V sao chép cả đề tài lẫn phong cách. Không ít các họa sĩ trẻ đã bị sự thành công đột ngột làm lóa mắt, tự đánh mất mình, lao vào làm giàu, thương mại hóa nghệ thuật.

Trở lại vụ việc tại Giải thưởng Mỹ thuật toàn quốc 2005, khi người sinh viên trẻ đoạt giải bằng tác phẩm sao chép của nước ngoài, một họa sĩ trong Hội đồng nghệ thuật thẳng thắn: "Thực ra lỗi là ở chúng tôi đã không đủ thông tin để phát hiện ra. Nhưng suy cho cùng, tri thức là vô tận, không thể tự tin rằng mình có thể am hiểu tất cả mọi thứ trong lĩnh vực mình hoạt động. Cho nên điều quan trọng nhất vẫn là lương tâm, đạo đức của người nghệ sĩ; là ý thức, trách nhiệm của anh ta với đứa con tinh thần của chính mình".

Không chỉ cần những hồi chuông...

Khoảng chục năm trở lại đây, đời sống mỹ thuật trở nên trầm lắng bởi sự nghèo nàn, đơn điệu, cũ mòn trong sáng tạo; bởi cơn lốc của dòng tranh thương mại hóa và nạn tranh chép, tranh giả làm nhiễu loạn thị trường, mất lòng tin ở công chúng, giảm uy tín và khả năng mở rộng, hội nhập, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của hội họa đương đại Việt Nam.

Thực trạng đáng buồn này đã và đang tiếp tục cần những hồi chuông cảnh báo, hơn nữa, cần ý thức trách nhiệm, hành động cụ thể và những biện pháp tích cực, quyết liệt cả ở phía người sáng tác và các nhà quản lý.

Trên thực tế, thời gian qua việc xử lý các vi phạm về bản quyền hội họa còn rất ít, chưa triệt để và được các cơ quan có thẩm quyền chú trọng.

Theo ông Phạm Quang Long, Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội, các lĩnh vực khác như băng đĩa, sách, âm nhạc... thường có tem nhãn, xuất xứ tác giả, NXB, phát hành cụ thể, nên việc xử lý về vi phạm bản quyền có căn cứ thuận tiện hơn. Còn hội họa rất khó vì không có gì bảo đảm chính xác rằng người họa sĩ chỉ sáng tác độc bản và vấn đề xác định bản quyền tác phẩm hầu như không có cơ sở gì ngoài sự am hiểu hội họa và lòng tin của người mua.

Bên cạnh đó, lâu nay việc để cho các phòng tranh tư nhân ra đời tràn lan, hoạt động thả nổi cũng chính là việc quản lý đã chưa làm được từ gốc. Ông cũng thừa nhận sự lỏng lẻo về cơ chế, tổ chức, sự thiếu thốn về lực lượng làm công tác thanh tra, thẩm định của Sở nói riêng và các cơ quan có thẩm quyền nói chung trong lĩnh vực này. Cùng quan điểm đó, họa sĩ Vi Kiến Thành, Phó  Vụ trưởng Vụ Mỹ thuật và Nhiếp ảnh Bộ Văn hóa - Thông tin, nhấn mạnh vai trò các nhà chuyên môn. Sở dĩ lâu nay chúng ta vẫn làm, nhưng sự thiếu về người, yếu về trình độ của các chuyên gia thẩm định mỹ thuật chính là một trong những cái khó của công tác thanh tra. Chế tài xử lý cũng chưa thật rõ ràng, cụ thể và được áp dụng triệt để; hoạt động thanh tra ít, hình phạt nhẹ, nên tác dụng ngăn chặn còn hạn chế. 

Năm 2005, Trung tâm giám định tác phẩm mỹ thuật của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ra đời, là nơi đầu tiên và duy nhất cấp giấy, dán tem chứng nhận tác phẩm gốc cho hàng trăm tác phẩm tranh, tượng của các tác giả trong và ngoài nước. Ðây chính là một hoạt động thiết thực góp phần bảo vệ giới sáng tác, làm trong sạch thị trường nghệ thuật.

Cần có sự vào cuộc của hội chuyên ngành trong trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hội viên, nhằm mục đích xây dựng nền mỹ thuật phát triển lành mạnh; sự tích cực, triệt để hơn nữa của các cơ quan có thẩm quyền trong công tác xây dựng cơ chế quản lý, giám sát và xử lý vi phạm. Ðó là điều hết sức cần thiết, cấp bách. Nhưng trước hết và cao hơn cả, vẫn là lương tâm, đạo đức nghề nghiệp của người họa sĩ trong sáng tạo nghệ thuật; là ý thức, bản lĩnh dám đấu tranh với những hiện tượng xâm phạm bản quyền, hành động phi nghệ thuật để tự bảo vệ mình, bảo vệ nghệ thuật chân chính.

Theo ND

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác