Vấn đề bảo hộ di sản VH– NT dân gian ở Việt Nam

(Cinet)- Với mục đích bảo vệ di sản văn học - nghệ thuật dân gian, Luật quốc gia phải nghiêm cấm việc sử dụng “xuyên tạc” tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian (bóp méo, cắt xén dẫn đến biến đổi). Đòi hỏi tổ chức, cá nhân sử dụng phải dẫn chiếu nguồn gốc, xuất xứ (chỉ dẫn địa lý) của loại hình văn học - nghệ thuật dân gian.

Liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đối với các hình thức thể hiện của văn học - nghệ thuật, bài viết này xin đề cập tới hai nội dung chính sau:

1. Khái quát về chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn học - nghệ thuật dân gian Việt Nam trong những năm qua

Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo lập được nền văn hoá phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc. Trong đó văn học - nghệ thuật dân gian là dòng chảy lớn bắt nguồn từ bản chất nhân dân, thể hiện sắc thái và khát vọng của các cộng đồng cư dân khác nhau cùng chung sống trên lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, bản thân nó có sức sống trường tồn, góp phần làm nên sức mạnh của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

“Đề cương văn hoá Việt Nam” năm 1943 đã sớm đề cập tới 3 nguyên tắc cơ bản là: “dân tộc, đại chúng và khoa học”. Hiến pháp Việt Nam năm 1992 tiếp tục ghi nhận giá trị đã được khẳng định từ bản Hiến pháp 1990: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình…” (Điều 5 Hiến pháp 1992). “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam…; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân” (Điều 30 Hiến pháp 1992). Đó là chính sách lớn của Nhà nước Việt Nam đối với văn hoá nghệ thuật nói chung và văn học - nghệ thuật dân gian nói riêng.

Từ những quy định cơ bản tại Đạo luật Hiến pháp, các thiết chế văn hoá đã từng bước được hình thành nhằm sưu tầm, khôi phục để bảo tồn và phát huy các giá trị văn học - nghệ thuật dân gian của các cộng đồng dân tộc. Đó là việc ra đời các viện và các khoa nghiên cứu giảng dạy về văn học - nghệ thuật dân gian. Hội Văn nghệ dân gian là tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng được ra đời với 73 chi hội hoạt động ở trung ương và các địa phương. Đội ngũ các chuyên gia về văn học - nghệ thuật dân gian được hình thành đông đảo ở hầu hết các lĩnh vực từ âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc đến múa và lễ hội v.v…

Các hoạt động thống kê, nghiên cứu, sưu tầm, công bố các hình thức văn học - nghệ thuật dân gian đã đạt những thành tựu đáng khích lệ. Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm có chất lượng về sử thi, lễ hội và các bộ môn nghệ thuật đã được công bố. Các bộ sách lớn về văn học - nghệ thuật dân gian của người Việt, dân tộc ít người, công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, tôn giáo đã được xuất bản hoặc ghi trên băng đĩa lưu hành rộng rãi. Các hoạt động nghiên cứu dàn dựng vở diễn sân khấu, các cuộc liên hoan, và việc tổ chức khôi phục các lễ hội truyền thống trong những năm qua đã được thực hiện ở nhiều địa phương. Hàng nghìn đề tài của các hội viên Hội Văn nghệ dân gian đã được triển khai. Chỉ trong năm năm trở lại đây có 821 đề tài thuộc các lĩnh vực khác nhau của hội viên đã được hoàn thành. Riêng sử thi “Đẻ đất đẻ nước” đã được tổ chức diễn xướng ghi vào 60 đĩa DVD. Các câu lạc bộ hát xướng đã được hình thành để phát huy các giá trị văn nghệ dân gian trong hoạt động hôm nay như các câu lạc bộ: Ca Trù, hát Chèo Tàu, hát Dô, hát Cửa Đình, múa hát Bài Bông, Chèo Thất Gian, Chèo Căng Khuốc, Hát Dặm, Ca Công, Ca Huế, Đờn Ca Tài Tử. Các hoạt động sưu tầm, giới thiệu nghệ thuật dân gian đã có kết quả trong việc phổ biến các tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống v.v…

Nhà nước đã ban hành chương trình quốc gia về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể và dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch, xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp. Các ngành văn hoá, du lịch, tiểu thủ công đã có nhiều kế hoạch cụ thể cho mục tiêu bảo tồn và phát triển văn học - nghệ thuật dân gian. Hội Văn nghệ dân gian đã đề ra kế hoạch “Tầm nhìn 2010” nhằm thống kê vốn liếng của cha ông để lại, xây dựng chương trình phát huy giá trị. Phong trào đã thu hút sự quan tâm bước đầu của các cộng đồng trong việc sưu tầm ghi chép, phục dựng các giá trị văn học - nghệ thuật dân gian. Hội đã có sáng kiến trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân bàn tay vàng”, danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”. Quốc hội đã thông qua danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và “Nghệ nhân ưu tú” để ghi nhận công lao của những người có nhiều cống hiến cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn học - nghệ thuật dân gian.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả trên, chúng ta còn nhiều thiếu sót, hạn chế. Cơ chế thị trường với mặt trái của nó, và việc giao lưu, hội nhập, đã xuất hiện những động cơ vụ lợi, dẫn đến sự băng hoại, biến dạng của các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm, phục dựng tiến triển chậm trong khi các nghệ nhân là kho tư liệu lưu giữ các giá trị này tuổi tác đã quá cao, thời gian vật chất không còn nhiều cho việc khai thác.

Đề cập tới việc bảo hộ các hình thức thể hiện văn học - nghệ thuật dân gian, Điều 748 Bộ luật Dân sự Việt Nam đã ghi nhận về đối tượng bảo hộ theo quy định riêng có đề cập tới “Tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian” nhưng chưa có văn bản nào hướng dẫn, giải thích. Như vậy, vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với các hình thức thể hiện văn học - nghệ thuật dân gian chưa được thực hiện tại Việt Nam.

2. Một số vấn đề cần nghiên cứu để có thể thể chế trong Pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

2.1 Về mục đích của việc bảo hộ:

Một mặt đảm bảo sự cân bằng giữa việc chống lại những lạm dụng, ngăn cản sự bộc lộ chính nó (văn học - nghệ thuật dân gian) và việc sưu tầm, khai thác làm tổn hại đến giá trị đích thực của nó. Mặt khác phải đảm bảo sự tự do sáng tạo, phổ biến những tác phẩm độc đáo lấy cảm hứng từ những tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian.

Mục đích này cũng được coi là nguyên tắc cơ bản để bảo hộ các hình thức thể hiện của văn học - nghệ thuật dân gian. 

2.2 Về đối tượng bảo hộ:

Tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian được hiểu là sự bao hàm các sản phẩm chứa đựng các yếu tố đặc thù của di sản nghệ thuật, được duy trì và  phất triển bởi một cộng đồng trong nước, hoặc bởi các cá nhân phản ảnh các tác phẩm văn học - nghệ thuật truyền thống của một cộng đồng. Có thể hình dung các đối tượng này ở 4 nhóm cơ bản hay nói theo cách khác là 4 hình thức của “hình thức” thể hiện văn học - nghệ thuật dân gian là:

      Loại hình thức thể hiện bằng ngôn ngữ (lời nói) bao gồm truyện, thơ, câu đối dân gian;

      Loại hình được thể hiện bằng âm nhạc (nhạc) gồm bài hát và nhạc cụ dân gian;

      Loại hình được biểu đạt bằng hành động (qua ngôn ngữ hình thể) bao gồm các điệu múa, vở   kịch và nghi lễ nghệ thuật dân gian;

      Loại biểu đạt lồng trong một vật thể: có thể nhận thấy qua xúc giác bởi lẽ nó tồn tại dưới dạng hữu hình, bao gồm các bức tranh vẽ, tượng, tác phẩm điêu khắc, đồ gốm, khảm, mộc, tác phẩm kim loại, đá quý, dệt, thảm, trang phục, nhạc cụ và các hình mẫu kiến trúc dân gian.

Ba loại đầu không nhất thiết đưa về dưới dạng vật chất. Ngôn từ không cần phải viết ra. Âm nhạc không cần phải tồn tại dưới dạng nốt nhạc, ký âm. Các hình thức thể hiện bằng hình thể (như múa) cũng không phải mô tả bằng văn bản, viết ra dưới dạng ký tự múa. Nhưng đối với loại thứ tư, vì là tác phẩm vật thể nên nhất thiết phải được thể hiện bằng một chất liệu tồn tại hữu hình.

2.3 Về việc sử dụng tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian

- Việc sử dụng có nhằm mục đích thu lời hay không, do tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài thành viên của cộng đồng nơi tác phẩm đó được hình thành sử dụng và việc sử dụng có ra ngoài khuôn khổ truyền thống và phong tục hay không- đó là các dạng sử dụng cần nghiên cứu để đưa ra quy định trong luật quốc gia

- Vấn đề cấp phép, khi luật quốc gia quy định việc cấp phép thì phải chỉ định cơ quan có thẩm quyền hoặc do cộng đồng có liên quan thực hiện việc thụ lý hồ sơ, xem xét cấp phép bản quyền. Trường hợp cấp phép có thu phí bản quyền thì số tiền đó thuộc cộng đồng có văn hoá dân gian, sau khi đã trừ các chi phí cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền, Nhà nước có thể đánh thuế từ khoản thu đó hoặc số tiền thu được để lập quỹ quốc gia bảo vệ và phát huy văn hoá dân gian.

 Trong trường hợp quy định hình thức sử dụng phải xin phép thì cũng phải đưa ra quy định các hình thức sử dụng không phải xin phép bao gồm: sử dụng cho mục đích giáo dục; sử dụng hợp lý để minh hoạ cho tác phẩm; “mượn” nó để sáng tạo với ý nghĩa lấy cảm hứng từ nó để sáng tạo tác phẩm mới; sử dụng để tường thuật về sự kiện, thời sự, hoặc nó là vật thể thường xuyên được đặt taị nơi công cộng.

- Với mục đích bảo vệ di sản văn học - nghệ thuật dân gian, Luật quốc gia phải nghiêm cấm việc sử dụng “xuyên tạc” tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian (bóp méo, cắt xén dẫn đến biến đổi). Đòi hỏi tổ chức, cá nhân sử dụng phải dẫn chiếu nguồn gốc, xuất xứ (chỉ dẫn địa lý) của loại hình văn học - nghệ thuật dân gian.

2.4. Môi trường kỹ thuật số và bảo hộ văn học - nghệ thuật dân gian

Sự ra đời của mạng thông tin toàn cầu đã đưa đến ưu điểm lớn trong việc truyền tải các tác phẩm văn học - nghệ thuật dân gian trong môi trường kỹ thuật số không biên giới, hoàn hảo và rất nhanh với giá rẻ khi làm các bản sao. Đồng thời cũng là nguy cơ khi bị hành vi vụ lợi làm bản sao bất hợp pháp, khó kiểm soát. Để bảo vệ được quyền tác giả đối với văn học - nghệ thuật dân gian trong môi trường kỹ thuật số đòi hỏi phải được giải quyết về phương pháp bảo vệ bằng kỹ thuật và thông tin quản lý bằng điện tử./.

Ts. Vũ Mạnh Chu

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác