Vi phạm bản quyền trong nước: Cần sự đồng bộ ở khung pháp lý

Ông Nguyễn Xuân Hiếu, Phó chủ tịch Hiệp hội Tin học và Viễn thông Hà Nội cho rằng, để giảm tỉ lệ vi phạm phần mềm, các đơn vị thực thi pháp luật cần mạnh tay hơn, có thể dùng xe lu nghiền nát những thiết bị cài đặt các phần mềm vi phạm bản quyền tựa như Trung Quốc đã làm...

Vi phạm bản quyền trong nước: Cần sự đồng bộ ở khung pháp lý - ảnh 1

Con số đáng báo động

Theo số liệu của Liên minh Phần mềm thương mại quốc tế (BSA), tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm Việt Nam năm 2003, 2004 là 92%, năm 2005 là 90% với giá trị vi phạm tương đương là 38 triệu USD, năm 2006 là 88% có giá trị vi phạm tương đương với 96 triệu USD. Vấn đề tôn trọng bản quyền phần mềm càng trở nên nóng bỏng sau khi nước ta chính thức gia nhập WTO vào tháng 1/2007 với cam kết quốc tế về bảo vệ bản quyền và sở hữu trí tuệ.

Ngày 22/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 04/2007/CT-TTg về tăng cường bảo vệ quyền tác giả đối với chương trình máy tính. Tiếp đó, ngày 12/4/2007, Thủ tướng ký Quyết định số 51/2007/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển phần mềm đến năm 2010, đề ra mục tiêu giảm tỉ lệ vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ về lĩnh vực phần mềm xuống bằng mức trung bình trong khu vực.

Sau khi Chỉ thị 04 được triển khai, đã có nhiều công ty máy tính vi phạm bản quyền phần mềm bị xử lý. Như trong đợt thanh tra tại TP HCM vừa qua, Thanh tra Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ) đã phối hợp với Phòng Phòng Chống tội phạm công nghệ cao, Cục CSĐT về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (Bộ Công an) tiến hành kiểm tra và phát hiện tại Công ty Cổ phần Máy tính và Truyền thông công nghệ xanh và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Cao Minh có chứa các phần mềm vi phạm bản quyền. Tổng giá trị các phần mềm bất hợp pháp này ước tính lên tới hơn 1 tỉ đồng...

Hiện tại, việc các công ty kinh doanh máy tính cài đặt sẵn các phần mềm không có bản quyền vào máy tính để bán cho khách hàng và coi đây như một lợi thế đã tạo ra sự bất công bằng đối với các công ty máy tính có cài đặt sẵn phần mềm bản quyền vào máy tính khi bán cho khách hàng và các doanh nghiệp có ý thức mua, sử dụng phần mềm có bản quyền.

Các doanh nghiệp như Lạc Việt, Vietkey, Edusoft... đã nếm trải các thất bại và tổn thất tài chính nặng nề khi đầu tư làm ra các sản phẩm nổi tiếng như từ điển Lạc Việt, bộ gõ Vietkey... được cài đặt trên hầu hết máy tính ở Việt Nam nhưng người làm ra nó hầu như chẳng thu được gì vì bị vi phạm bản quyền rộng khắp cả nước...

Ông Phạm Tấn Công, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam cho rằng: “Việc thực hiện nghiêm túc bản quyền phần mềm không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp phần mềm, mà còn phục vụ sự phát triển của kinh tế quốc gia và ngay chính người sử dụng".

Chính ông Tarun Sawney, Giám đốc chống vi phạm bản quyền khu vực châu Á khi nghiên cứu về Việt Nam đã đưa ra nhận xét rằng, những nước bảo vệ tốt bản quyền phần mềm thì chẳng quốc gia nào nghèo đi cả.

Ông cũng nhấn mạnh, trong vòng 4 năm tới, khi Việt Nam giảm được vấn đề vi phạm bản quyền xuống 82% sẽ tạo thêm được 4.097 việc làm mới, góp thêm 1 tỉ USD vào GPP, đóng thuế cho Nhà nước 43 triệu USD. Chống vi phạm bản quyền phần mềm tốt còn giúp ngành công nghệ thông tin tăng  trưởng  169% vào năm 2009 so với 108% vào năm 2004.

Ông Nguyễn Tử Quảng (Trường đại học Bách khoa Hà Nội) tác giả của chương trình phần mềm diệt virus Bkav cho rằng, khi thu phí phần mềm này khoảng  20USD/máy tính với số lượng 4 triệu máy tính /năm thì mỗi năm cũng có doanh thu 80 triệu USD...

Cần sự đồng bộ ở khung pháp lý

Theo ông Vũ Ngọc Hoan, Phó cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa - Thông tin cũ), sẽ nâng cao mức phạt đối với người vi phạm bản quyền phần mềm là 100 triệu đồng hoặc áp dụng mức  phạt trị giá từ 4-5 lần giá trị  đối với  đơn vị, cá nhân vi phạm.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Xuân Hiếu, Phó chủ tịch Hiệp hội Tin học và Viễn thông Hà Nội cho rằng, để giảm tỉ lệ vi phạm phần mềm, các đơn vị thực thi pháp luật cần mạnh tay hơn, có thể dùng xe lu nghiền nát những thiết bị cài đặt các phần mềm vi phạm bản quyền tựa như Trung Quốc đã làm (nhờ đó, vi phạm bản quyền phần mềm của quốc gia này từ  92% năm 2003 xuống còn 82% năm 2006 đã khiến quốc gia này thu hút được nhiều tập đoàn lớn tới làm ăn, doanh thu thêm nhiều tỉ USD).

Ông cũng cho rằng, ngoài khung hình phạt cao đối với những người vi phạm thì khâu giáo dục nhận thức đối với những người sử dụng phần mềm là rất quan trọng.

Chuyên gia này cũng bày tỏ  một bất cập trong việc thực thi các luật liên quan tới phần mềm là chưa chuẩn hóa được các khái niệm liên quan tới  từ “bản quyền”. Vì theo ông, quyền của các tác phẩm văn học nghệ thuật không thể giống bản quyền phần mềm. Quyền tác giả của các tác phẩm văn học nghệ thuật nhấn mạnh tới giá trị gốc, còn bản quyền phần mềm thì nhấn mạnh tới giá trị thương mại. Hai điều đó khác nhau rất nhiều. Không thể áp dụng chung chung.

Đồng quan điểm với ông Hiếu là ông Lê Hồng Hà, Phó chủ tịch Hội Tin học Việt Nam. Ông Hà cho rằng, Luật Sở hữu trí tuệ quốc tế mang tính chung chung, họ cho phép các nước sẽ được sửa luật này cho phù hợp với các đặc trưng cụ thể để rõ ràng và chính xác hơn, do vậy không thể áp dụng bản quyền phần mềm như một tác phẩm văn học.

Còn ở Việt Nam thì lại áp dụng bản quyền phần mềm như quyền tác giả văn học thì càng áp dụng luật, các công ty càng có nguy cơ bị kiện do phần mềm là lĩnh vực kỹ thuật thay đổi thường xuyên, nếu trong một công ty phần mềm, tác giả của một sản phẩm phần mềm chuyển sang một công ty khác hoặc bị chết mà phải chờ “bút phê” sửa lại của người đó thì công ty sở hữu bản quyền sẽ bị thiệt nhiều, nếu sửa  lại thì nguy cơ bị kiện như chơi...

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp Hội phần mềm Việt Nam cũng đồng với quan điểm trên và còn nhấn mạnh, coi bản quyền phần mềm như quyền tác giả văn học là gây khó khăn cho doanh nghiệp phần mềm đồng thời cho thấy, khung pháp lý quản lý bản quyền phần mềm đang có vấn đề.

Nhiều chuyên gia, doanh nghiệp phần mềm trong cuộc tọa đàm cũng nêu ý kiến rằng, để đảm bảo tốt chuyện thực thi bản quyền phần mềm thì các bộ ngành liên quan phải thường xuyên có những thông tư, nghị định hướng dẫn để thực thi luật cho hiệu quả, tránh tình trạng luật đã ban hành từ lâu, song không có thông tư hướng dẫn khiến doanh nghiệp, đơn vị muốn quản lý bản quyền phần mềm vẫn không có bước đi cụ thể của mình.

Theo CAND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác