Bảo hiểm y tế: chiến lược dài hạn đảm bảo tính bền vững trong công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam

Bảo hiểm y tế: chiến lược dài hạn đảm bảo tính bền vững trong công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam - ảnh 1
Khám chữa bệnh bằng BHYT. Ảnh minh họa
(Cinet – PCMT)- Chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào các nguồn lực tài chính nước ngoài với khoảng 80% kinh phí (cụ thể là 95% kinh phí để mua thuốc kháng virus (ARV), 100% kinh phí để mua thuốc Methadone, các hoạt động truyền thông, tư vấn xét nghiệm, giám sát đại dịch…). Khi các nguồn lực quốc tế giảm mạnh vào sau năm 2017 thì rất nhiều dịch vụ y tế cho người nhiễm HIV sẽ không được cung cấp miễn phí như hiện nay. Do đó, bảo hiểm y tê (BHYT) sẽ trở thành giải pháp tài chính quan trọng nhất nhằm đảm bảo duy trì sử dụng thuốc kháng vi rút (ARV) với người bệnh.
Bảo hiểm y tế: cứu cánh cho bệnh nhân nhiễm HIV
Ở Việt Nam, kể từ trường hợp nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí minh vào năm 1999, theo số liệu thống kê của Cục phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, tính đến 6/2015, số người nhiễm HIV còn sống được báo cáo là 227.144 người, trong đó 71.115 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và đã có 74.442 người tử vong do HIV/AIDS. Đại dịch AIDS đã có mặt ở 100% tỉnh thành phố, 99% số quận huyện. Theo ước tính của các chuyên gia, hiện có tới 260.000 người nhiễm HIV đang sống trong cộng đồng.
HIV là một trong 6 nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam trong đó phần lớn là nam thanh niên, nữ thanh niên ở lứa tuổi sinh đẻ với ba quần thể chính là: người nghiện chích ma túy (NCMT), quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM) và phụ nữ bán dâm (PNBD). Dịch bệnh tập trung ở các tỉnh biên giới miền núi phía Bắc, Tây Nam Bộ, các thành phố lớn và khu vực tập trung.
Theo Cục phòng, chống HIV/AIDS, tính đến tháng 6/2015 đã có trên 96.000 người nhiễm Hiv tham gia điều trị ARV. Việc điều trị ARV không chỉ làm giảm đáng kể số lượng tử vong do AIDS hàng năm mà còn giảm đến 95% khả năng lây nhiễm HIV cho người khác, giảm 41% mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, giảm gánh nặng kinh tế cho gia đình, đồng thời tăng tuổi thọ cho người nhiễm bệnh. Theo ước tính của các chuyên gia, nhờ điều trị ARV mà Việt Nam đã ngăn ngừa cho gần 150.000 người thoát khỏi tử vong do AIDS trong giai đoạn 2001-2015.
Tuy nhiên, Kinh phí dành mua thuốc ARV những năm vừa qua chủ yếu do nguồn viện trợ (chiếm trên 94%). Việt Nam thực sự vẫn tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào nguồn tài chính của tổ chức tài trợ trong cuộc chiến với HIV/AIDS. Nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế cho công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam đang bị cắt giảm và khả năng đến năm 2017 sẽ bị cắt hoàn toàn. Trong khi đó, kinh phí Chương trình Mục tiêu Quốc gia cho phòng chống HIV năm 2014 bị cắt giảm tới 50% so với năm 2013, kinh phí năm 2015 không tăng so với năm 2014.
Theo TS Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, hiện cả nước có hơn 98.000 người nhiễm HIV (chiếm hơn 40% số người nhiễm HIV) đang được điều trị miễn phí thuốc ARV. Mỗi năm, số tiền chi trả cho thuốc khoảng 420 tỉ đồng. Trong năm 2015, nguồn ngân sách nhà nước chi cho thuốc ARV đã tăng lên 60 tỉ (so với các năm là 20 tỉ) còn lại là được các tổ chức thế giới viện trợ.
Theo lộ trình, từ tháng 3/2016, các nhà tài trợ sẽ không tiếp nhận bệnh nhân mắc HIV mới và đến hết năm 2017 khoản viện trợ này sẽ chấm dứt hoàn toàn, trong  khi đó mỗi năm Việt Nam có khoảng 800- 1000 bệnh nhân nhiễm HIV mới phải điều trị bằng thuốc ARV. Vì vậy, bảo hiểm y tế (BHYT) được coi là cứu cánh cho bệnh nhân nhiễm HIV
Khó khăn trong triển khai BHYT cho bệnh nhân nhiễm HIV
Bảo hiểm y tế: chiến lược dài hạn đảm bảo tính bền vững trong công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam - ảnh 2
Bệnh nhân nhiễm HIV tham gia khám chữa bệnh bằng BHYT. Ảnh minh họa.

Mới đây, Bộ Y tế vừa ban hành thông tư số 15/2015/TT-BYT về việc hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với người nhiễm HIV và người sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS.
Theo đó, người tham gia BHYT nhiễm HIV và người tham gia BHYT khi sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS được quỹ BHYT chi trả: Thuốc (bao gồm cả thuốc ARV), hóa chất, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật thuộc phạm vi chi trả của quỹ BHYT; Xét nghiệm HIV đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai và khi sinh con theo yêu cầu chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh nếu không được các nguồn kinh phí khác chi trả; Kỹ thuật đình chỉ thai nghén ở phụ nữ mang thai nhiễm HIV; Khám bệnh, xét nghiệm HIV, thuốc ARV và các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh HIV/AIDS khác đối với trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV; Xét nghiệm HIV theo yêu cầu chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh (trừ chi phí xét nghiệm HIV đối với người hiến bộ phận cơ thể người, người cho tinh trùng, noãn); Xét nghiệm HIV, điều trị bằng thuốc kháng HIV đối với người phơi nhiễm với HIV, người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro (trừ các trường hợp tai nạn rủi ro nghề nghiệp đã được ngân sách nhà nước chi trả); Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội.
Dù BHYT được coi là cứu cánh cho bệnh nhân nhiễm HIV, nhưng hiện nay con số bệnh nhân HIV có thẻ BHYT hiện ở mức rất khiêm tốn khoảng 30%. Được biết, hiện nay Cục phòng, chống HIV/AIDS đang triển khai chiến dịch truyền thông, phát thông tin tờ rơi cho tất cả người đang điều trị ARV người có HIV để họ nắm được sự cần thiết của BHYT hướng đên mục tiêu nâng tỷ lệ người nhiễm HIV tham gia BHYT lên 60% vào năm 2020.
Tuy nhiên, để 100% bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đều có thẻ BHYT cũng rất khó khăn bởi đa phần bệnh nhân là những hộ nghèo, cận nghèo không kinh phí để mua thẻ BHYT, trên 50% bệnh nhân nhiễm HIV là người ngoại tỉnh không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không có giấy tờ cần thiết nên không thể đăng ký tham gia BHYT tự nguyện.
Việc không có thẻ BHYT sẽ khiến người bệnh không có khả năng chi trả và bỏ điều trị, điều này không chỉ gây hại cho người bệnh mà còn gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng.
Mặt khác, thực tế, bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của thẻ BHYT, bởi vì từ trước đến nay thuốc ARV và các thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội, các xét nghiệm liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh đều được miễn phí hoàn toàn.
Trong khi đó, tình trạng kỳ thị phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV/AIDS của cộng đồng còn ở mức cao nên người nhiễm HIV/AIDS đều muốn giữ bí mật thông tin cá nhân, không muốn công khai để hưởng các chế độ y tế của nhà nước. Mặc dù việc bệnh nhân mua thẻ BHYT không cần phải kê khai thông tin bị nhiễm HIV/AIDS, các phòng khám HIV/AIDS đều bảo mật thông tin cho người bệnh, nhưng mức độ sẵn sàng tham gia BHYT của người bệnh vẫn còn khiêm tốn.
TH
 
 
 
 
 
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác