Tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc điều trị HIV/lao tại tuyến cơ sở

Tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc điều trị HIV/lao tại tuyến cơ sở - ảnh 1
Cấp phát thuốc điều trị HIV/AIDS. Ảnh minh họa
Nguồn: internet
(Cinet- PCMT)- Nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc điều trị HIV/lao và giảm chi phí trong quản lý và điều trị lao và HIV, Bộ Y tế đã ban hành “Mô hình lồng ghép Quản lý và cung cấp dịch vụ HIV và lao tại tuyến huyện và tuyến xã.
Mục tiêu cụ thể bao gồm: Tăng cường chẩn đoán lao sớm cho người bệnh HIV, điều trị hiệu quả lao và tăng tỷ lệ hoàn thành điều trị lao cho người bệnh đồng mắc HIV/lao; Tăng cường sàng lọc, chẩn đoán HIV cho người bệnh lao; đưa người bệnh lao nhiễm HIV vào điều trị ARV sớm, tăng tỷ lệ điều trị ARV ở người bệnh đồng mắc HIV/lao;  Giảm tỷ lệ bệnh tật do quản lý tốt tác dụng phụ và tương tác thuốc trên người bệnh đồng mắc HIV/lao; Lồng ghép phối hợp cán bộ y tế trong quản lý và cung cấp dịch vụ lao, HIV, thực hiện đa chức năng, giảm nhân sự, cơ sở hạ tầng, chi phí đào tạo; giảm chi phí hành chính và vận hành; tạo điều kiện thuận lợi và giảm chi phí đi lại cho người bệnh; Tăng cường vai trò của tuyến huyện trong việc kết nối với tuyến tỉnh và tuyến xã.
Mô hình được thực hiện theo 2 giai đoạn từ 7/2015 đến 8/2017. Cụ thể, giai đoạn I (7/2015 – 7/2016) sẽ thiết lập được cơ sở lồng ghép cung cấp dịch vụ HIV và lao; Cơ sở lồng ghép cung cấp dịch vụ HIV và lao hoạt động hiệu quả theo hướng dẫn của Mô hình; Cơ sở lồng ghép cung cấp dịch vụ HIV và lao phối hợp tốt với tuyến huyện và tuyến xã trong quản lý điều trị người bệnh. Giai đoạn II (8/2016 – 8/2017) sẽ lồng ghép sổ sách, báo cáo HIV và lao trong cùng 1 hệ thống và lồng ghép chức năng chuyên trách HIV/AIDS và chuyên trách lao do cùng 1 cán bộ thực hiện.
Chương trình chống lao Quốc gia và Chương trình phòng chống HIV/AIDS hiện nay tại Việt Nam đang được thực hiện tại 4 tuyến: Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã nhưng mô hình lồng ghép HIV/lao sẽ thực sự hiệu quả và phù hợp khi triển khai tại tuyến huyện vì tuyến huyện là nơi khám chẩn đoán và điều trị ban đầu cho người bệnh. Đồng thời, đối với chương trình phòng chống HIV/AIDS, tuyến huyện hiện nay cũng là nơi được phân công vai trò tiếp cận, quản lý và điều trị chính cho người bệnh HIV/AIDS.
Đối với chương trình lao tại tuyến xã sẽ thực hiện phát hiện người nghi lao thông qua triệu chứng ho, khạc; tiêm phòng lao (BCG); điều trị dự phòng mắc lao bằng INH cho trẻ em tiếp xúc nguồn lây; đảm bảo vệ sinh môi trường để tránh nguồn lây, cấp phát thuốc lao, HIV và giám sát việc dùng thuốc điều trị lao. Đối với chương trình HIV/AIDS tuyến xã thực hiện sàng lọc HIV cho đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV, cấp phát thuốc điều trị HIV/AIDS và giám sát việc dùng thuốc điều trị HIV/AIDS.
Ban Điều phối HIV/lao trung ương có kế hoạch lựa chọn 5 tỉnh và 12 huyện/thị xã để thực hiện mô hình thí điểm là: Tỉnh Ninh Bình (Bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện Kim Sơn, BVĐK huyện Gia Viễn, TTYT thành phố Ninh Bình); Tỉnh Thái Nguyên (Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Phú Lương, TTYT huyện Đồng Hỷ); Tỉnh An Giang (BVĐK huyện Tân Châu, BVĐK thị xã Chợ Mới);  Tỉnh Đồng Nai (TTYT huyện Long Thành, TTYT  huyện Xuân Lộc); Tình Bà Rịa – Vũng Tàu (TTYT huyện Tân Thành, TTYT huyện Long Điền, TTYT thị xã Bà Rịa – Vũng Tàu). Việc triển khai thí điểm được thực hiện trong 1 - 2 năm đầu sau đó mở rộng đồng loạt đối với các tỉnh có các cơ sở phù hợp.
Tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc điều trị HIV/lao tại tuyến cơ sở - ảnh 2
Tư vấn dự phòng HIV/ADIS. Ảnh minh họa

Các nội dung hoạt động bao gồm: Thiết lập cơ sở lồng ghép HIV và lao tại tuyến quận huyện; Các dịch vụ được cung cấp và qui trình vận hành tại tuyến huyện; Sử dụng Gene Expert để chẩn đoán lao cho người nhiễm HIV, xét nghiệm viêm gan B, C và tải lượng virus HIV; Tuyến xã phường tại các huyện triển khai thí điểm Mô hình thực hiện lồng ghép Quản lý và cung cấp các dịch vụ HIV và lao.
Cụ thể, các mô hình thí điểm này sẽ cấp phát thuốc điều trị lao và điều trị HIV/AIDS; Kiểm tra giám sát (vãng gia) trong điều trị lao và điều trị HIV/AIDS; Quản lý các đối tượng nguy cơ nhiễm HIV (Người nghiện trích ma túy, gái mại dâm, man quan hệ đồng tính…) và người tiếp xúc với nguồn lây vi khuẩn lao; Truyền thông phòng chống HIV/AIDS và phòng chống lao; Thực hiện các hoạt động dự phòng: Tiêm BCG, phát bơm kim tiêm, bao cao su, điều trị dự phòng bằng INH cho trẻ em có tiếp xúc nguồn lây và cho người nhiễm HIV; Phát hiện người nghi lao và chuyển đến cơ sở chẩn đoán lao, sàng lọc nhiễm HIV và chuyển đến cơ sở chẩn đoán khẳng định nhiễm HIV.
Trong giai đoạn thí điểm nguồn kinh phí được Quỹ toàn cầu (QTC) Phòng chống HIV/AIDS, QTC phòng chống Lao, USAID, Dự án USAID/SMART TA và các dự án khác tài trợ. Sau giai đoạn thí điểm, kinh phí chủ yếu từ Chương trình mục tiêu và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
TH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác