Mỹ: Ngành văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia (Phần 1)

Mỹ: Ngành văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia (Phần 1) - ảnh 1
(Cinet)- Ngành công nghiệp văn hóa mang lại rất nhiều lợi ích cho nền kinh tế quốc gia. Các quốc gia vừa có thể nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường vừa thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển bằng cách đầu tư vào nghệ thuật và văn hóa. Chuyên đề này xoay quanh các vấn đề về lợi ích của văn hóa nghệ thuật thúc đẩy phát triển kinh tế nước Mỹ.
I. Giới thiệu
Nghệ thuật và văn hóa đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước. Các ngành công nghiệp liên quan đến văn hóa và nghệ thuật (Ngành công nghiệp sáng tạo) đem lại nhiều lợi ích kinh tế trực tiếp cho các bang và cộng đồng như tạo công ăn việc làm, thu hút đầu tư, tạo nguồn thu thuế, và kích thích tăng trưởng nền kinh tế trong nước thông qua phát triển ngành du lịch và mua sắm của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, những ngành công nghiệp này cũng mang lại rất nhiều các lợi ích khác như việc kết hợp tính sáng tạo vào các sản phẩm và dịch vụ của các ngành công nghiệp khác đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động. Ngoài ra, vì nghệ thuật và văn hóa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, nên đây là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển cộng đồng, nâng cao cuộc sống tiện nghi và thu hút nhiều chuyên gia trẻ đầu tư.Càng ngày các nhà kinh tế càng nhận thức được tầm quan trọng của ngành công nghiệp sáng tạo đối với nền kinh tế quốc gia và khả năng cạnh tranh cao trong thị trường toàn cầu.
Từ những hoạt động của các cơ quan nghệ thuật phi lợi nhuận cho tới các tác động của ngành du lịch văn hóa, rõ ràng các ngành nghề có tính sáng tạo đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các quốc gia trên toàn quốc. Để giúp các bang nhận ra những lợi ích đầy đủ về mặt kinh tế và tiềm năng của các ngành nghệ thuật và văn hóa, thì trước hết các nhà lãnh đạo phải xác định các ngành công nghiệp sáng tạo hoặc cụm công nghiệp quan trọng trong nhà nước của mình. Sau đó, họ có thể áp dụng các chiến lược hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp này. Các chiến lược bao gồm các biện pháp khuyến khích hướng vào các lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật cũng như các sáng kiến phát triển, đào tạo kinh doanh, các chương trình tiếp thị, hoặc hợp tác công-tư để thúc đẩy sự tăng trưởng và đầu tư vào các cụm công nghiệp sáng tạo cụ thể.
Đặc biệt, còn có các lời khuyên cho các nhà lãnh đạo về cách nắm bắt và tính toán các ngành công nghiệp sáng tạo, cách xây dựng kế hoạch để tận dụng những lợi ích của các ngành công nghiệp này, và cung cấp sự hỗ trợ nhằm giúp duy trì sự đóng góp của các ngành nghệ thuật và văn hóa. Ngoài ra, nó còn phân tích những đóng góp của nghệ thuật và văn hóa vào sự phát triển của cộng đồng địa phương và ngành du lịch nhà nước, cung cấp thông tin về cách thức kết hợp các khía cạnh này vào các chiến lược phát triển kinh tế tổng thể.
II. Phân tích
1. Các ngành công nghiệp sáng tạo là tài sản kinh tế
Các nhà lãnh đạo và người lao động đang đứng trước một nền kinh tế toàn cầu ngày càng cạnh tranh khốc liệt và Mỹ không còn nắm giữ vị trí thống trị nữa. Các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, và Ireland đang vượt mặt Hoa Kỳ về các chỉ số quan trọng như tăng trưởng kinh tế, đổi mới sản phẩm mới, thâm nhập băng thông rộng, và trình độ học vấn của các thế hệ đời sau. Chỉ khi khoảng cách này ngày càng nới rộng ra, thì các quốc gia mới nhận ra mối quan hệ khăng khít tính cạnh tranh và tính sáng tạo trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Trong nền kinh tế hiện nay:
• Các ngành công nghiệp truyền thông mới và sáng tạo đang gia tăng về số lượng và đóng vai trò kinh tế và xã hội ngày càng nổi bật;
• Giá trị các sản phẩm trên thị trường ngày càng được đánh giá qua tính độc đáo và tính thẩm mỹ của sản phẩm, cho thấy sự sáng tạo là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của nhiều ngành công nghiệp;
• Các công việc có mức lương cao hấp dẫn nhất đòi hỏi người lao động phải có óc sáng tạo, kĩ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng giao tiếp tốt; và
• Quyết định về trụ sở và chi nhánh của công ty bị chi phối bởi nhiều yếu tố như sự sẵn có của lực lượng lao động sáng tạo và chất lượng cuộc sống cho nhân viên.
Trong bối cảnh như vậy, nguồn tài nguyên nghệ thuật và văn hóa của một quốc gia được coi là tài sản kinh tế. Các ngành công nghiệp nghệ thuật và văn hóa tạo ra công ăn việc làm, thu hút đầu tư và kích thích phát triển nền kinh tế nhà nước thông qua phát triển ngành du lịch, mua sắm của người tiêu dùng và doanh thu thuế. Quan trọng hơn, nó còn giúp người lao động trở thành lực lượng lao động hiện đại, tạo ra môi trường cộng đồng có sức hấp dẫn cao đối với người dân, các doanh nghiệp, và khách du lịch, và mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các ngành công nghiệp khác.
Nhà nước có thể xác định các ngành kinh tế sáng tạo của họ theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào cấu phần và đặc tính của các doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận, các cá nhân, và địa điểm trong bất kì khu vực cụ thể nào. Nền kinh tế sáng tạo vừa bao gồm con người, các tài sản vật chất và thuộc về tổ chức. Nó còn bao gồm nhiều loại thể chế văn hóa, nguyên tắc sang tạo, và đam mê kinh doanh. Các ngành công nghiệp liên quan đến nghệ thuật và văn hóa bao gồm quảng cáo, kiến ​​trúc, thị trường đồ cổ, hàng thủ công, thiết kế, thời trang, điện ảnh, phương tiện truyền thông kỹ thuật số, truyền hình, radio, âm nhạc, phần mềm trò chơi trên máy tính và thiết bị di động, nghệ thuật biểu diễn, in ấn, nghệ thuật đồ họa và ngành du lịch văn hóa.
Mặc dù các ngành công nghiệp sáng tạo được định nghĩa theo nghĩa rất rộng, nhưng lại có vai trò quan trọng đến nền kinh tế nhà nước. Đầu tiên, chúng đóng góp trực tiếp vào việc tạo công ăn việc làm, tạo thuế, và sự phát triển của một quốc gia. Ví dụ, nền kinh tế sáng tạo ở Arkansas sử dụng gần 27.000 lao động và mang lại 927 tỉ dô la Mỹ thu nhập cá nhân cho cư dân Arkansas. Các doanh nghiệp sáng tạo là nhà sử dụng lao động lớn thứ ba ở Arkansas, sau ngành giao thông vận tải, hậu cần và chế biến thực phẩm.
Các nhà lãnh đạo đã nghiên cứu những đóng góp của nghệ thuật vào nền kinh tế bằng việc sử dụng một loạt các biện pháp, từ hoạt động của các cơ quan nghệ thuật phi lợi nhuận tới các biến đổi của ngành du lịch văn hóa. Vì tiền lương và thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp sáng tạo đóng góp 3,9 tỉ đô la Mỹ vào nền kinh tế khu vực Bắc Carolina vào năm 2006 hay tốc độ tăng trưởng 17,6 % hàng năm của ngành văn hóa ở Massachusetts (và đóng góp 4,23 đô la Mỹ vào kinh tế), nên rõ ràng ngành công nghiệp sáng tạo có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nhà nước.
Ngoài những đóng góp trực tiếp về mặt tài chính, thì nghệ thuật và văn hóa còn giúp mang lại rất nhiều các lợi ích kinh tế khác, bao gồm:
Giúp các khu vực kinh tế kém phát triển:
• Bản chất phân cấp của các ngành công nghiệp sáng tạo có thể mang lại lợi ích cho dân cư tại các khu vực không có thế mạnh kinh tế-như khu vực nông thôn và trung tâm đô thị.Trọng tâm của các ngành sáng tạo là những nghệ sĩ hoạt động riêng lẻ. Họ thường có mối quan hệ chặt chẽ với người dân nơi họ cư trú. Việc tạo cho họ các cơ hội kinh doanh cả bên trong và ngoài khu vực có thể mang lại nhiều khả năng phát triển kinh tế.
Tuyển chọn và phát triển một lực lượng lao động có tay nghề:
• Nghệ thuật là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Nghệ thuật làm nâng cao chất lượng cuộc sống, làm phong phú thêm các thú vui ở địa phương, và đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư gia trẻ đến một khu vực cụ thể. Richard Florida, một chuyên gia hàng đầu về năng lực cạnh tranh, đổi mới, và các xu hướng nhân khẩu học kinh tế, được gọi là “ con người sáng tạo”. Cụm từ này mô tả một cá nhân trẻ và tài năng, linh hoạt và yêu thích một môi trường sôi động và sáng tạo. Việc thu hút và giữ chân các tài năng trẻ và các công ty tài năng đang ngày càng trở nên quan trọng đối với các quốc gia. Và nghệ thuật và văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các tài năng như vậy.
Phát triển ngành du lịch:
• Các khán giả tham gia vào các địa điểm nghệ thuật và các sự kiện văn hóa cũng mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp khác. Một địa điểm thuộc về văn hóa nổi tiếng giúp thu hút du khách, họ không chỉ chi tiêu để phục vụ nhu cầu bản thân, mà còn đóng góp vào nền kinh tế trong nước bằng việc ăn uống trong nhà hàng, nghỉ ngơi trong khách sạn, và mua sắm quà tặng và các dịch vụ. Một nghiên cứu gần đây về yếu tố tác động vào chi tiêu của khách du lịch chỉ ra rằng mức chi tiêu của du khách tương quan trực tiếp với số lượng lao động về nghệ thuật và thiết kế trong một khu vực
Để thấy được những lợi ích kinh tế này, thì một số tiểu bang đã thông qua một loạt các chiến lược được xây dựng để thúc đẩy văn hóa nghệ thuật và khai thác các lợi ích về kinh tế.
Báo cáo này vạch ra các bước mà các nhà lãnh đạo có thể áp dụng để kết hợp nghệ thuật và văn hóa vào các kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế nhà nước. Cụ thể, phần 2 sẽ trình bày các cách tiếp cận để xác định và phân tích hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên văn hóa và nghệ thuật của nhà nước nhờ đó mà các nhà hoạch định chính sách nhà nước có thể hiểu rõ hơn về các doanh nghiệp quảng cáo hiện có trong tiểu bang của họ và vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp đối với nền kinh tế của nhà nước. Chương 3 tập trung vào các cách kết hợp nghệ thuật và văn hóa vào các chính sách dự kiến của nhà nước. Để làm được điều này cần triệu tập một cơ quan lãnh đạo mạnh mẽ bao gồm các chuyên gia từ các lĩnh vực công cộng, tư nhân và tổ chức phi lợi nhuận để đưa ra tầm nhìn rõ ràng về việc gắn nghệ thuật với các chiến lược tăng trưởng kinh tế. Chương 4 đánh giá các chiến lược cụ thể mà các quốc gia có thể áp dụng để thực hiện kế hoạch của họ. Các nhà lãnh đạo có thể phát triển ngành văn hóa và nghệ thuật thông qua các doanh nghiệp có lợi nhuận và phi lợi nhuận, các ngành công nghiệp phi nghệ thuật, các doanh nghiệp, cá nhân, và các mạng lưới nghệ thuật cũng như thông qua việc đảm bảo một lực lượng lao động có tay nghề cao để chọn ra và đào tạo tại các trường học để trau dồi sự hiểu biết, đánh giá cao, và nhu cầu về các dịch vụ và hàng hóa nghệ thuật và văn hóa.
Đặc biệt, các quốc gia có thể kết hợp nghệ thuật và văn hóa vào các kế hoạch phát triển cộng đồng thông qua việc sử dụng các khoản tài trợ, khu doanh nghiệp, và bằng cách hỗ trợ sự phát triển của không gian nghệ thuật. Chương 6 trình bày những cách mà các quốc gia có thể xem nghệ thuật và văn hóa như là một phần của chiến lược ngành du lịch của họ, đặc biệt là thông qua các nỗ lực thúc đẩy và quảng bá di sản và san phẩm văn hóa độc đáo của quốc gia.
Vì những lí do trên, báo cáo này nhằm mục đích giúp các nhà lãnh đạo mở cửa tiềm năng của nghệ thuật và văn hóa trong quốc gia mình để phát triển nền kinh tế nhà nước.
2. Vai trò các ngành công nghiệp văn hóa của quốc gia
Mỗi quốc gia cần đánh giá nền kinh tế sáng tạo của mình. Quốc gia nào cũng đều có các doanh nghiệp riêng trong các ngành công nghiệp sáng tạo, và việc nắm rõ thông tin về địa điểm của các doanh nghiệp này và những đóng góp chúng mang lại cho nền kinh tế của một quốc gia là một bước quan trọng đầu tiên trong việc sử dụng các ngành công nghiệp sáng tạo như một công cụ phát triển kinh tế. Để hiểu đầy đủ những đóng góp kinh tế của các ngành công nghiệp này, các quốc gia có thể "xác định" các tài sản nghệ thuật và văn hóa của quốc gia mình. Điều này liên quan đến việc thực hiện một danh mục liên tục của tài sản nghệ thuật, tiến hành một phân tích, và lưu trữ dữ liệu ngành công nghiệp nghệ thuật, như một số quốc gia đã làm.
Mỹ: Ngành văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia (Phần 1) - ảnh 2
Mỹ: Ngành văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia (Phần 1) - ảnh 3

Thực hiện một danh sách các tài sản nghệ thuật nhà nước
Để đánh giá những đóng góp và tác động tích cực của nghệ thuật và văn hóa lên nền kinh tế của một quốc gia, thì mỗi quốc gia cần xác định nền kinh tế sáng tạo của mình. Maine đưa ra một ví dụ về cách thức các quốc gia có thể làm điều này. Vào giữa những năm 1990, Ủy ban Nghệ thuật Maine đã bắt tay vào xác định quy mô và tác động của nền kinh tế sáng tạo của nhà nước với việc tạo ra chương trình nghiên cứu Discovery. Chương trình này là một bản kiểm kê trên toàn quốc liên tục của các nguồn tài nguyên văn hóa trong cộng đồng trong một quốc gia. Nó cung cấp vốn và hỗ trợ chuyên môn cho các cộng đồng Maine để khảo sát các sự kiện, các nghệ sĩ, truyền thống trong nước cũng như các tổ chức văn hóa thúc đẩy hoặc hỗ trợ nghệ thuật biểu diễn, thị giác, thủ công, hoặc văn học. Sau khi thu thập được, các thông tin được sử dụng để xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế và các sáng kiến phát triển ngành ​​du lịch cũng như kết hợp các nền kinh tế nhà nước, lực lượng sản lao động và nỗ lực phát triển và văn hóa. Chương trình này đã liệt kê các tài sản văn hóa trong hơn 70 % cộng đồng trong nhà nước.
Các nghiên cứu tình huống cũng đưa ra dự đoán sâu sắc về các ngành công nghiệp văn hóa của một quốc gia, làm sáng tỏ các tác động kinh tế của các ngành công nghiệp cụ thể, các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và nghề nghiệp khác nhau, và các nhu cầu của các cụm kinh tế khác nhau. Arkansas và Bắc Carolina (Nghệ thuật, Văn hóa và Thiết kế ở nông thôn Bắc Carolina) là một trong những bang đã sử dụng phương pháp tiếp cận nghiên cứu tình huống để lấy tài liệu các ngành công nghiệp sáng tạo và tiết lộ mối quan hệ đặc biệt của chúng với các nền kinh tế trong nước.
Các tiểu bang khác đã sử dụng các dữ liệu về kinh doanh và nghề nghiệp hiện có để tạo ra các hệ thống lập danh sách tự động đưa ra một số quan điểm về các hoạt động văn hóa. Cả Washington và Oregon đều áp dụng các hệ thống Creative Index Vitality, để theo dõi các chỉ số chính.
Ngoài miêu tả các ngành công nghiệp, các bang cần thiết lập và duy trì một kho lưu trữ các dữ liệu hữu ích về các ngành công nghiệp văn hóa và nghệ thuật có thể được sử dụng để đưa thông tin về các chiến lược phát triển kinh tế nhà nước. Ví dụ, Văn phòng phát triển kinh tế văn hóa Michigan đã cho ra mắt Công cụ phát triển kinh tế văn hóa trực tuyến (CEDOT) trong quan hệ đối tác với trường Đại học bang Michigan để liên tục theo dõi và cung cấp thông tin toàn diện về lĩnh vực sáng tạo của nhà nước. CEDOT đang thiết lập một mạng lưới các đối tác trên toàn tiểu bang đại diện cho các nghệ sĩ, thư viện, nhà giáo dục, các nhà phân phối nghệ thuật, bảo tồn lịch sử, bảo tàng, và các tổ chức khác để thiết lập và cập nhật cơ sở dữ liệu với mục đích theo dõi, đánh giá và phát triển ngành công nghiệp sáng tạo của Michigan. Cơ sở dữ liệu này là một bộ thông tin về thị hiếu và sở thích của khách du lịch và những người tiêu dùng khác. Thông tin này sau đó sẽ được cung cấp cho các nghệ sĩ và các nhà khai thác du lịch để thông báo các quyết định kinh doanh của họ.
Dự án dữ liệu văn hóa của Pennsylvania là một quan hệ đối tác giữa nhà nước, thông qua Hội đồng Pennsylvania về nghệ thuật, và một số tổ chức từ thiện. Dự án này được thiết kế để thu thập thông tin đầy đủ, chính xác về các lĩnh vực nghệ thuật để hỗ trợ ngành công nghiệp nghệ thuật phát triển. Vào năm 2004, dự án được thiết kế và sử dụng một cổng thông tin Web để thu thập thông tin về việc làm, khán giả, cơ sở vật chất, tài chính, và các hoạt động của các tổ chức văn hóa từ khắp nơi trong bang. Cổng thông tin này cũng cung cấp cho người dùng một nguồn thông tin phù hợp, đáng tin cậy về các ngành công nghiệp sáng tạo của nhà nước. Nhà nước, các nhà tài trợ tư nhân, và các nhóm chính sách sử dụng các dữ liệu cuối cùng để đánh giá nhu cầu của cộng đồng văn hóa trong khu vực và phân tích tác động của các ngành công nghiệp văn hóa của nhà nước. Ngoài ra, hệ thống này cung cấp cho các tổ chức tham gia một công cụ hữu ích để phân tích dữ liệu cá nhân của họ cùng với đồng nghiệp của họ và tạo ra các dự báo tương lai. Là một dự án tiên phong ở Pennsylvania, dự án dữ liệu văn hóa đã được một số bang khác áp dụng (Maryland và California) và đang dần trở thành một sáng kiến ​​cho nhiều bang áp dụng.
Một sáng kiến ​​khác cũng được nhiều bang áp dụng tập trung vào việc thu thập và sử dụng dữ liệu để mô tả các ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm sáu tiểu bang của New England. Trong 30 năm qua, Connecticut, Maine, Massachusetts, New Hampshire, Rhode Island, và Vermont đã làm việc với nhau thông qua Hội đồng New England và quỹ New England về nghệ thuật (NEFA) để thu thập thông tin và tiến hành nghiên cứu tác động kinh tế khu vực định kỳ của các tổ chức văn hóa phi lợi nhuận. NEFA tập hợp thông tin này và thu thập thông tin bổ sung để phối hợp với các chính sách và nỗ lực nhằm tận dụng những tài sản văn hóa của khu vực.
Sau nhiều năm khảo sát các doanh nghiệp sáng tạo của New England, NEFA đã tạo ra một cơ sở dữ liệu văn hóa New England (NECD) để lấy thông tin về tài chính, nhân khẩu học, và các thông tin về các tổ chức và cá nhân bao gồm kinh tế sáng tạo của New England tiếp cận hơn với công chúng. Để tận dụng thông tin này, các tổ chức nhà nước và địa phương ở Massachusetts và các bang khác ở New England đã tài trợ một công cụ mẫu kinh tế tương tác, có tên CultureCount (www.culturecount.org), sử dụng dữ liệu của NECD để tính toán tác động kinh tế của các tổ chức văn hóa. Dữ liệu CultureCount được thu lượm từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả các cơ quan nhà nước, hồ sơ IRS, danh sách doanh nghiệp thương mại, và các mẫu khảo sát hiện có trong lĩnh vực văn hóa.
Cuối cùng, mặc dù không cung cấp thông tin tài chính chi tiết về ngành nghệ thuật và văn hóa ở mỗi bang, nhưng báo cáo gần đây của Quỹ Nghệ thuật Quốc gia (NEA), có tên Artists in the Workforce: 1990-2005, lại chứa nhiều dữ liệu thống kê phong phú liên quan đến số lượng các nghệ sĩ trong mỗi tiểu bang, các ngành nghề cụ thể, thu nhập trung bình, trình độ học vấn của họ. Các nguồn tài nguyên như những vậy có thể giúp xác định các tài sản trí tuệ và sáng tạo của lực lượng lao động của nhà nước. Báo cáo của NEA cũng cho phép phân tích và so sánh dữ liệu về lực lượng lao động các nghệ sĩ của nhà nước.
Thật không may, các cụm nhỏ như nghệ thuật thường thiếu phân loại ngành công nghiệp và thách thức đo lường dễ dàng; các phép phân tích cũ thường không bao gồm lao động tự do hoặc các tổ chức phi lợi nhuận tiêu biểu trong lĩnh vực sáng tạo. Không bao gồm cụm nhỏ, không chỉ giảm ảnh hưởng của công nghiệp sáng tạo, mà còn làm nhiều tiểu bang bỏ lỡ cơ hội tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp quan trọng này. Do đó, các phân tích tiếp theo của các cụm nhà nước cần được bổ sung bằng các phương pháp: nghiên cứu trường hợp, tự nhận dạng của các doanh nghiệp và các hiệp hội, các thư mục kinh doanh và kiến ​​thức xã hội để xác định các cụm siêu nhỏ.
Được trang bị đầy đủ kiến ​​thức như vậy, các tiểu bang có thể xây dựng các hệ thống đáp ứng nhu cầu của công nghiệp sáng tạo, áp dụng các chính sách và chương trình góp phần phát triển đất nước, và theo dõi chính xác những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của tiểu bang theo thời gian. Một phân tích nghệ thuật sửa đổi có thể đưa thông tin về các chiến lược phát triển nhân lực của bang. Bằng việc nắm rõ các yêu cầu tuyển dụng của cụm công nghiệp độc đáo này, các tiểu bang có thể kết hợp hài hòa hệ thống giáo dục và đào tạo lực lượng lao động của họ với các nhu cầu của các doanh nghiệp sáng tạo địa phương và dự đoán các yếu tố lực lượng lao động có khả năng ảnh hưởng tới sự phát triển của bang trong tương lai. Các bang nỗ lực nâng cao giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM); phát triển nhân lực; và giáo dục sau trung học là những ví dụ gần đây về những nỗ lực giáo dục nhà nước liên quan đến các phân tích của các cụm công nghiệp nhà nước khác.
Một khi các tài sản văn hóa của một quốc gia đã được xác định và phân tích, thì thông tin đó có thể cho biết về sự phát triển của các chính sách, kế hoạch, và các sáng kiến ​​lãnh đạo để khai thác các lợi ích kinh tế của văn hóa và nghệ thuật trên toàn tiểu bang.
Đảm bảo tính toán chính xác
Mặc dù nghệ thuật và văn hóa đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế, nhưng hầu hết các nghiên cứu kinh tế lại không đề cao vai trò này trong nền kinh tế nhà nước. Nhiều tổ chức nghệ thuật làm việc phi lợi nhuận và do đó không được tính vào các cơ sở dữ liệu về việc làm hoặc các nghiên cứu về ngành công nghiệp. Các tổ chức này, gồm một loạt các nhóm hoạt động, trung tâm nghệ thuật, phường hội, viện bảo tàng, địa điểm biểu diễn, lễ hội, và các chương trình học tập có vai trò rất quan trọng trong báo cáo phân tích bởi vì các tổ chức này có thể thu hút và giữ chân các "tầng lớp sáng tạo" và tạo ra các giá trị thẩm mỹ cho cộng đồng. Ngoài ra, Các tổ chức này còn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của các cá nhân sáng tạo hoặc các lò đào tạo các doanh nghiệp, nhân tố tạo nên ngành sáng tạo.
Một hạn chế của nhiều nghiên cứu ngành công nghiệp là tập trung vào các doanh nghiệp lớn, trưởng thành. Các ngành công nghiệp sáng tạo phụ thuộc nhiều vào những cá nhân sáng tạo, tài năng, nhiều người trong số họ là những lao động tự do, hoặc làm việc cho các doanh nghiệp có năm nhân viên hoặc ít hơn (doanh nghiệp siêu nhỏ). Mặc dù tốc độ phát triển của nền kinh tế Mỹ hầu hết nhờ vào các doanh nghiệp nhỏ, bao gồm cả lao động tự do, nhưng các doanh nghiệp kiểu này thường không có trong các cơ sở dữ liệu việc làm. Hơn nữa, các phân tích kinh tế tiêu chuẩn có thể bỏ qua sự tăng trưởng và sức mạnh của các ngành công nghiệp mới hoặc có cấu trúc độc đáo.
Ví dụ, các ngành công nghiệp sáng tạo đã phát triển nhiều mã khác nhau của hệ thống phân loại các ngành công nghiệp Bắc Mỹ (NAICS) và trong đó có những phân khúc không tồn tại mã. Các mã này rất quan trọng vì chúng được các nhà kinh tế sử dụng để có được thông tin về các ngành công nghiệp tồn tại trong một khu vực nhất định. Tầm quan trọng của các ngành công nghiệp sáng tạo là như vậy – nhưng trên thực tế chúng gần như không được chú ý tới- nên cần có sự chú ý đặc biệt đến những ngành công nghiệp này.
Mỹ: Ngành văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia (Phần 1) - ảnh 4

3. Đưa nghệ thuật và văn hóa vào kế hoạch phát triển kinh tế
Sau khi đã đánh giá và phân tích các tài sản văn hóa, các tiểu bang hoàn toàn có thể sử dụng những thông tin này để đưa ra các chiến lược phát triển kinh tế mà khai thác những lợi ích kinh tế của các ngành công nghiệp sáng tạo trên toàn tiểu bang. Những chiến lược này không chỉ tóm tắt các giá trị của nghệ thuật đối với một tiểu bang, mà nó còn xác định những cơ hội mới, đưa ra các sáng kiến ​​hiệu quả, và giúp nhận ra các đối tác tiềm năng thúc đẩy hơn nữa nghệ thuật theo định hướng phát triển kinh tế trong tiểu bang. Các yếu tố chính ảnh hưởng tới quá trình lập ra một kế hoạch tốt là khả năng lãnh đạo tốt và những đóng góp từ các bên liên quan, thỏa thuận về một tầm nhìn rõ ràng, và những nỗ lực ban đầu rõ rệt.
Tìm kiếm đầu vào từ các bên liên quan
Việc xác định đúng người lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng tới thành công của những nỗ lực lập kế hoạch. Một chiến lược chung đặt ra là việc thiết lập một hội đồng đặc biệt, lực lượng đặc nhiệm, hoặc văn phòng phát triển nền kinh tế của nhà nước thông qua nghệ thuật.
Ví dụ, thống đốc của bang Maine, Ngài John Baldacci đã thành lập một Hội đồng Kinh tế Sáng tạo thường trực để tư vấn và thúc đẩy các sáng kiến ​​kinh tế sáng tạo của tiểu bang. Trong ba năm qua, Hội đồng này đã giới thiệu một loạt các chính sách đề xuất và sách hướng dẫn cho các cộng đồng trong tiểu bang và đã cho thấy khả năng lãnh đạo tốt và động viên những nỗ lực của tiểu bang và địa phương nhằm tăng cường các cụm công nghiệp sáng tạo của tiểu bang.
Năm 2003, Hội đồng Phát triển nông thôn Vermont thành lập Hội đồng Văn hóa và Đổi mới Vermont (VCCI). Lực lượng đặc nhiệm liên ngành này có nhiệm vụ quản lý và giám sát thông tin về nền kinh tế sáng tạo và các tác động của nó lên Vermont (ví dụ, việc làm, thu nhập, tác động kinh tế, chất lượng của các tác động cuộc sống, vv). VCCI quyết định các sáng kiến ​​chính sách và những khuyến nghị mà sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế của tiểu bang. Những thành tựu của lực lượng đặc nhiệm này bao gồm việc thiết lập một chương trình quan hệ công chúng làm nổi bật vai trò quan trọng của ngành công nghiệp sáng tạo trong nền kinh tế của Vermont, giới thiệu các sáng kiến ​​tiếp thị khác nhau, đưa Vermont trở thành một trung tâm đổi mới, thiết lập tháng Lịch sử và Di sản của Vermont.
Các tiểu bang khác cũng đã thành lập một văn phòng hoặc vị trí đặc biệt trong chính quyền tiểu bang:
Theo Thống đốc Deval Patrick, tiểu bang Massachusetts đã đưa ra một sáng kiến ​​ Kinh tế sáng tạo và bổ nhiệm một Giám đốc ngành kinh tế Sáng tạo tại Văn phòng phát triển kinh doanh Massachusetts để làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp và các nghệ sĩ, cũng như với các cơ quan văn hóa của tiểu bang, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo của tiểu bang.
Được thành lập vào năm 2005 trong Khoa Lịch sử, nghệ thuật và thư viện Michigan, Văn phòng Phát triển Kinh tế Văn hóa Michigan hướng mục tiêu giúp tiểu bang đạt được kế hoạch phát triển kinh tế thông qua các hoạt động văn hóa. Các hoạt động của văn phòng này bao gồm việc tập hợp các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật, dẫn đầu nỗ lực thu thập dữ liệu, và phát động các sáng kiến ​​đặc biệt, tận dụng các tài năng sang tạo và các tài sản văn hóa của tiểu bang.
Công dân tiểu bang Rhode Island xác định nguồn lực văn hóa của họ.
Bên cạnh việc tập trung vào phát triển riêng tiểu bang của mình thì các thống đốc có thể thúc đẩy kế hoạch phát triển của các tiểu bang khác. Một phương pháp tiếp cận các kế hoạch trong khu vực khuyến khích các tiểu bang cùng nhau nỗ lực của họ để khuyến khích phát triển ngành công nghiệp sáng tạo và du lịch.
Ví dụ, vào năm 1998, NEFA đã phối hợp với Hội đồng New England (NEC) – một liên minh kinh doanh trong khu vực và Boston Symphony Orchestra để triệu tập một hội nghị thượng đỉnh về tiềm năng của nền kinh tế sáng tạo có vai trò giống như một tài sản phát triển kinh tế khu vực ở New England. Hội nghị đã xây dựng một Sáng kiến ​​Kinh tế sáng tạo cho toàn bộ khu vực New England, bao gồm một nghiên cứu tác động kinh tế và các khuyến nghị chính sách cụ thể, được nêu trong kế hoạch chi tiết về đầu tư vào nền kinh tế sáng tạo của New England, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế. NEFA hiện đang phối hợp với các tiểu bang của New England để thực hiện các khuyến nghị này và kết hợp với các chiến lược phát triển kinh tế tiểu bang.
Hồng Nhung lược dịch.
Nguồn:nga.org(Còn tiếp)
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác