Nam Phi: Chiến lược phát triển ngành văn hóa ( Phần 1)

Nam Phi: Chiến lược phát triển ngành văn hóa ( Phần 1) - ảnh 1
Người Nam Phi (Nguồn:internet)
(Cinet)- Chiến lược phát triển ngành văn hóa tại Nam Phi nghiên cứu các ngành công nghiệp văn hóa và đề xuất các chiến lược cho sự tăng trưởng và phát triển của ngành nhằm xây dựng các hoạch định chính sách văn hóa trong tương lai. Chiến lược này được giới thiệu 2 phần. Bài viết này sẽ giới thiệu phần đầu tiên của chiến lược.
 
I. Giới thiệu
Sản xuất điện ảnh và truyền hình có thể được định nghĩa là một phần của các ngành công nghiệp thông tin liên lạc, giải trí và truyền thông mang tính bao quát.
Ngành công nghiệp thông tin liên lạc bao gồm tất cả các hình thức thông tin liên lạc như điện thoại, ấn phẩm báo chí, quảng cáo vv. Ngành công nghiệp giải trí bao gồm những các ngành công nghiệp cung cấp một số hình thức vui chơi giải trí như âm nhạc, giải trí trực tuyến, phim ảnh và truyền hình cũng như các ấn phẩm. Ngành công nghiệp truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và cung cấp thông tin. Quảng cáo thuộc cả ngành công nghiệp thông tin liên lạc và ngành công nghiệp truyền thông. Nó đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình vì việc tiếp thị các sản phẩm phim truyện đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của ngành điện ảnh và cũng vì quảng cáo mang lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình. Điện ảnh, video và truyền hình là một khía cạnh của cả ba lĩnh vực này nhưng tất cả các ngành này bao gồm nhiều ngành hơn so với chỉ tính riêng các ngành công nghiệp điện ảnh, truyền hình và video.
Trong định nghĩa này, sản xuất phim ảnh và truyền hình gồm một số hoạt động. Các hoạt động này khác nhau từ việc phát triển kịch bản và định hướng phim sao cho sáng tạo, đẳng cấp tới công nghệ sản xuất phim, từ việc quyết định tài chính, phân phối phim có hiệu quả đến việc quảng bá. Nó bao gồm vô số các ngành công nghiệp gồm các ngành công nghiệp liên quan trực tiếp vào chuỗi giá trị điện ảnh và truyền hình như sản xuất và hậu sản xuất điện ảnh và truyền hình, phân phối, trình chiếu và truyền thanh đến việc cung cấp các ngành công nghiệp như các cơ quan tuyển diễn viên, các công ty bảo hiểm và các nhà cung cấp thiết bị.
Vấn đề quan trọng cần lưu ý là các mối liên kết giữa mỗi giai đoạn, cụ thể là, giai đoạn khởi đầu, sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu thụ tới khán giả. Một phần của bài phân tích ngành công nghiệp điện ảnh sẽ là xác định đầu mối làm các mối liên kết này bị phá vỡ. Đó là tại những điểm can thiệp gì được yêu cầu.
II. Toàn cầu công nghiệp văn hóa
Báo cáo này sẽ đưa ra một bản phác thảo của các bên tham gia vào ngành công nghiệp toàn cầu, các thông số của ngành công nghiệp này cũng như xác định xu hướng chính trong ngành công nghiệp toàn cầu. Mục đích là để hiểu tác động của những yếu tố và xu hướng này lên ngành công nghiệp địa phương và cũng để xác định các cơ hội mà họ cung cấp cho các ngành công nghiệp địa phương.
1. Bối cảnh toàn cầu
Ngành công nghiệp giải trí toàn cầu tạo ra khoảng 172,50 tỷ USD trong năm 1997. Con số này bao gồm các bộ phim và truyền hình, ấn phẩm, âm nhạc và giải trí trực tuyến. Mỗi năm, người tiêu dùng trên toàn thế giới mua 300 tỷ USD giá trị của vé xem phim, đĩa CD, băng ghi hình và các sản phẩm giải trí khác. Video và game trên máy tính hiện chiếm doanh thu lớn nhất trên toàn thế giới, tiếp theo sau đó là truyền hình, âm nhạc, (thu âm), sách và tạp chí, và sau đó là phim.
Ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình toàn cầu là một ngành công nghiệp có số liệu thống kê đặc biệt. Mỗi năm, có rất nhiều kịch bản được viết ra, nhưng chỉ rất ít trong số đó được quay thành phim. Số liệu về phim điện ảnh của ngành công nghiệp điện ảnh Mỹ, cứ mỗi trong mười hai phim được đề xuất, thì chỉ có một phim được thực hiện và đối với mỗi bảy phim đó dẫu có được được thực hiện thì chỉ có một phim mang lại lợi nhuận. Số liệu này được tính trong tổng số dân số là 250 triệu người. Tuy nhiên, thể loại phim truyện cũng có cơ hội thu lợi nhuận từ video và truyền hình có thu phí. Càng ngày càng có nhiều các hãng phim lớn với vô số sản phẩm được phát hành lại tại các thị trường nước ngoài.
Ngành công nghiệp này có rủi ro rất cao. Điện ảnh cần nguồn vốn đầu tư đáng kể và không có gì đảm bảo các nhà lafm phim sẽ có lợi nhuận. Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn này, đây vẫn một ngành công nghiệp tạo ra hàng tỷ đô la  doanh thu và hàng triệu công ăn việc làm trên toàn cầu.
 Các bên tham gia
Các bên tham gia chủ yếu vào ngành công nghiệp toàn cầu gồm 6 hãng phương tiện truyền thông lớn nhất là Sony, Time Warner, Disney, Seagram, Viacom và News Corporation. Bốn công ty truyền thông nắm giữ nhiều cổ phần nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình, cụ thể là Warner, Disney, Viacom, và News Corporation . Đây đều là những công ty có nhiều tiềm năng nhất trong việc mở rộng ngành công nghiệp phát thanh truyền hình ra phạm vi toàn cầu. Họ cũng đang có kế hoạch mở rộng doanh thu ngoài nước Mỹ từ 40% đến 50% trong tổng doanh thu của năm 2000. Universal cũng đang có kế hoạch mở rộng các khoản thu ngoài nước Mỹ lên 60% trong cuối những năm 90. Do đó phát thanh truyền hình được thiết lập để trở thành một lĩnh vực phát triển lớn nhất trong các ngành công nghiệp giải trí, phương tiện truyền thông toàn cầu..
Sản xuất
Trong khi các nhà xuất khẩu lớn nhất là các công ty truyền thông lớn chủ yếu có trụ sở tại Mỹ, thì Ấn Độ là quốc gia sản xuất phim lớn nhất trên thế giới. Ấn Độ có số dân là 931 triệu người và có tốc độ tăng trưởng trong việc sản xuất phim ổn định từ năm 1950. Một trong số bốn phim điện ảnh được thực hiện mỗi năm đến từ Ấn Độ. Trong năm 1993, có 90 triệu người đi xem phim ở rạp mỗi tuần. Ngành công nghiệp điện ảnh của Ấn Độ thu về khoảng 850 triệu USD mỗi năm.
Nam Phi: Chiến lược phát triển ngành văn hóa ( Phần 1) - ảnh 2
Ảnh minh họa(Nguồn: Internet)

2. Các xu hướng toàn cầu
 Cấu trúc của các công ty giải trí toàn cầu
Ngành công nghiệp phim điện ảnh là một hình thức tương đối mới của công nghệ truyền thông có nguồn gốc từ nửa đầu của thế kỷ XX. Thế hệ trẻ có lẽ góp phần phát triển ngành công nghiệp này mà trước đây nó đã trở thành cố hữu trong nền kinh tế toàn cầu.
Edward Herman và Robert McChesney đã nói trong cuốn sách của mình, cuốn Truyền thông toàn cầu rằng; “Trong trường hợp của phim điện ảnh, không giống như thời của báo in và tạp chí, thời của phim ảnh không còn những cuộc cạnh tranh quy mô nữa. Thật vậy, theo kịp với các tổ chức công nghiệp hiện đại, công nghiệp điện ảnh phát triển nhanh chóng trên thị trường nổi bật bằng việc xuất hiện hàng loạt phim trường quy mô. Hơn nữa công nghiệp điện ảnh là ngành công nghiệp truyền thông đầu tiên đáp ứng được nhu cầu toàn cầu.” Chỉ có ít các hãng phim lớn đã nêu ở trên hội nhập với nhau cả về chiều rộng và chiều sâu.
Hội nhập theo chiều sâu ý muốn nói đến các công ty trong chuỗi giá trị chuyển sang các bộ phận khác trong chuỗi giá trị. Đó có thể là các nhà sản xuất, những người chuyển sang phát thanh truyền hình thông qua quá trình sáp nhập và mua lại hoặc các đài phát thanh chuyển sang khâu phân phối. Trong đầu những năm 50 ở Mỹ, luật pháp quy định các hãng phim bán đi các rạp chiếu phim của họ đã được ban hành. Tuy nhiên, việc bãi bỏ quy định luật pháp giữa những năm 1990 đã dẫn đến sự hội nhập theo chiều sâu được cho phép một lần nữa. Một ví dụ về hội nhập theo chiều sâu là tập đoàn News Corporation. Đaay là công ty sở hữu Twentieth Century Fox, một công ty sản xuất điện ảnh và truyền hình và mạng lưới phát thanh Fox của Mỹ.
Hội nhập theo chiều rộng đề cập đến các công ty chuyển sang các bộ phận khác nhau nhưng có liên quan đến nhau. Đó có thể là các nhà sản xuất chuyển sang xuất bản hoặc các đài truyền hình chuyển sang rạp chiếu phim. Ví dụ, công ty truyền thông đa quốc gia News Corporation sở hữu các doanh nghiệp về báo in, phim ảnh và âm nhạc và đó chính là hội nhập theo chiều rộng. Time Warner, công ty truyền thông lớn nhất trên thế giới, có doanh số bán hàng đạt 25 tỷ USD, là một ví dụ khác về công ty hội nhập theo chiều rộng và chiều sâu. Công ty này được hội nhập theo chiều sâu từ khâu sản xuất đến khâu quảng cáo và phát sóng.
Lý do cho sự tập trung hội nhập và liên kết theo chiều rộng và chiều sâu một phần có thể là do sự chiếm lĩnh của hãng phim Hollywood trong lịch sử đối với các ngành công nghiệp toàn cầu. Các công ty ban đầu được thành lập ở Hollywood đã chiếm được phần lớn thị trường toàn cầu thông qua việc mua lại hoặc kí kết hợp đồng với các công ty về phân phối, truyền thanh và phát sóng ở nước ngoài. Tuy nhiên, một lý do quan trọng về sự phát triển của loại hình tổ chức công nghiệp này liên quan đến những lợi ích về tối đa hóa lợi nhuận đối với một số kênh phân phối khác nhau.
Việc sản xuất phim và truyền hình giống như một ngành công nghiệp sáng tạo nội dung, đòi hỏi chi phí nghiên cứu và phát triển rất lớn. Đây là chi phí một lần, nhưng có thấy rủi ro đầu tư cực kỳ cao. Càng nhiều công ty sở hữu các bộ phận khác nhau của chuỗi giá trị thì càng giảm thiểu nguy cơ rủi ro. Đó là do các công ty phân phối có thể trợ cấp chéo cho các đài truyền hình, khi sản xuất có lợi nhuận. Một ví dụ về điều này, là chương trình X-Files. Đây là chương trình hiện có giá trị nhất trên truyền hình Mỹ, trị giá khoảng nửa tỷ đô la. Tuy nhiên, nếu công ty truyền thông News Corporation không sở hữu phòng thu và một mạng lưới truyền hình, thì chương trình có thể đã thất bại ngay từ đầu. “Đó là vì chương trình X-Files mất thời gian để quảng cáo, xếp hạng .. ở cuối mùa giải đầu tiên. Bất kỳ mạng lưới nào khác đều có thể hủy bỏ nó. Nhưng Fox còn non trẻ, tin rằng chương trình này có thể được mở rộng. Bây giờ không còn ai thắc mắc về giá trị của nó.” Ví dụ này cho thấy rằng các công ty phân phối và phát sóng các sản phẩm có nhiều khả năng kiên trì theo đuổi tiếp thị và quảng bá các chương trình mà họ có để thu lợi nhuận. Nguy cơ của việc không thu được lợi nhuận từ việc đầu tư ban đầu cao cũng được giảm xuống thông qua các công ty liên kết với nhau theo chiều rộng. Qua đó, các công ty này có thể thu lại lợi nhuận thông qua một số kênh phân phối khác nhau.
Những khán giả đã xem phim, có thể mua các cuốn sách, tạp chí có in hình các ngôi sao trên bìa, nhạc phim và cũng có thể là một chiếc áo phông. Họ thậm chí có thể thuê video hay xem lại phim này trên truyền hình hoặc nghe các bài hát chủ đề trên Đài phát thanh truyền hình âm nhạc. Tập đoàn Disney đã áp dụng mô hình tối đa hóa lợi nhuận này kể từ khi thành lập, và đã gặt hái được rất nhiều thành công. Các công ty càng có nhiều cơ hội bù lại chi phí và gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên một loại hình sản xuất nhất định, thì họ càng có nhiều khả năng về mặt tài chính hơn để tái đầu tư vào các loại hình sản xuất, từ đó làm tăng nguồn ngân sách của họ. Nguồn ngân sách càng nhiều càng mang lại nhiều cơ hội tiếp cận với các thị trường lớn hơn, vì nhà sản xuất có thể đủ khả năng mời những ngôi sao lớn hơn, hiệu ứng đặc biệt hơn và địa điểm biểu diễn tốt hơn. Những phim này cũng tạo ra doanh thu thông qua một số kênh phân phối khác nhau giúp tăng tỷ suất lợi nhuận. Điều này đôi khi có thể tạo sự khác nhau giữa phim có lợi nhuận và phim bị lỗ. Ví dụ như bộ phim do  Disney sản xuất vào năm 1996, có tên The Hunchback of Notre Dame, thu được 99 triệu USD tại các rạp ở Mỹ và Canada. Đây được coi là một khoản doanh thu đáng thất vọng. Tuy nhiên, dự kiến khoản lợi nhuận thu được từ bộ phim sẽ đạt khoảng 500 triệu USD (không chỉ doanh thu) từ các nguồn doanh thu khác. Những nguồn này bao gồm tiền bán đồ chơi mềm của các nhân vật trong phim, đồ dùng văn phòng phẩm có in hình của nhân vật, công viên chủ đề.
 Phân phối và triển lãm
Có một kênh phân phối trong ngành công nghiệp điện ảnh toàn cầu. Các công ty phân phối phân phối một số sản phẩm từ một hãng khác. Những sản phẩm này đều hỗ trợ chéo cho nhau. Công việc phân phối và triển lãm là một trong những trợ cấp chéo. Chẳng hạn, thỏa thuận hợp đồng của Ster-Kinekor với các chuyên ngành được gọi là Hiệp định phân phối toàn cầu hóa. Với những thỏa thuận này, các phân phối đồng ý phân phối tất cả các sản phẩm của một hãng phim tư nhân. Vào cuối mỗi năm các nhà phân phối sẽ xem xét các báo cáo doanh thu của mỗi phim, sau đó họ tính tổng lợi nhuận và tiền lỗ từ các bộ phim.
Nếu tổng lợi nhuận đến từ phim của số đông, số tiền này sẽ được chia cho các nhà phân phối và nhà sản xuất (nhà phân phối kiếm được trung bình 25% trong tổng lợi nhuận). Nếu bị lỗ, hãng sẽ chi trả phần lỗ cho nhà phân phối.
Đối với các hãng phim lớn, những bộ phim có lợi nhuận cao nhất thu được nhiều doanh thu đến nỗi mà các hãng phim có thể đủ khả năng bù lỗ cho các phim được ít lợi nhuận. Trong một ngành công nghiệp với những số liệu thống kê đáng kinh ngạc như thế này, khi mà rất ít phim thực sự thu được lợi nhuận, thì hình thức phân phối này hoàn toàn hợp lí.
Những nhà sản xuất ở Nam Phi đều cố gắng để sản phẩm của họ có mặt trên thị trường quốc tế với những thành công nhất định. Do đó, cần phát triển một kênh phân phối sản phẩm cả trong và ngoài nước. Chiến lược này đã được những bên liên quan lớn tới ngành công nghiệp này nhận ra từ lâu và họ đã có những kế hoạch để đưa những kênh phân phối này vào hoạt động.
Nam Phi: Chiến lược phát triển ngành văn hóa ( Phần 1) - ảnh 3
Nam Phi: Chiến lược phát triển ngành văn hóa ( Phần 1) - ảnh 4
Ảnh minh họa(Nguồn: Internet)

 Môi trường phát thanh
Thị trường truyền hình Mỹ được liên kết cả chiều dọc và chiều ngang với các đài truyền hình, các nhà cung cấp chương trình, và các nhà cung cấp trang thiết bị cũng như với các mạng quốc gia và trạm trực thuộc. Mặc dù luật pháp Mỹ đã giới hạn số lượng các trạm mà mỗi mạng có thể sở hữu, nhưng những mối quan hệ cấu trúc vẫn được cho phép để phát triển giữa các trạm hoặc các chi nhánh. Ngoài ra còn có các thỏa thuận mua lại các chương trình với các đài truyền hình khác hoặc các công ty phân phối điện ảnh và truyền hình lớn. Từ các mối quan hệ này, ngành công nghiệp Mỹ đã phát triển hệ thống giá cả thị trường thứ cấp mà từ đó các mạng truyền hình có thể bù đắp chi phí sản xuất ở thị trường sơ cấp thông qua các đài truyền hình mà họ sở hữu, và sau đó bán sản phẩm với giá thấp hơn cho các đài truyền hình trực thuộc của họ (thị trường thứ cấp). Những sản phẩm này sau đó được bán cho các dịch vụ phát thanh truyền hình quốc gia khác với mức giá giảm hơn nữa.
Chi phí của các sản phẩm trong nước sẽ luôn luôn lớn hơn chi phí của sản phẩm quốc tế vì sản phẩm quốc tế sẽ luôn bù đắp được một phần đáng kể nếu không muốn nói là toàn bộ chi phí sản xuất trước khi được bán trên thị trường nước ngoài.
Hạn ngạch sản phẩm trong nước
Với quá trình toàn cầu hóa của các sản phẩm điện ảnh và sản phẩm nghe nhìn, các quốc gia ngày càng lo lắng rằng sự phát triển văn hoá dân tộc sẽ bị đi xuống. Mối quan tâm này đã trở thành một động lực thúc đẩy và phát triển nền văn hóa địa phương thông qua sự phát triển các ngành công nghiệp điện ảnh quốc gia. Tuy nhiên, vì sản phẩm điện ảnh trong nước luôn luôn tốn nhiều chi phí hơn so với các sản phẩm nhập khẩu, nên nhiều quốc gia đã đặt ra hạn ngạch đối với các đài truyền hình để đảm bảo sự phát triển của ngành công nghiệp trong nước.
Các quy định về sản phẩm trong nước nhằm mục đích cung cấp cho người dân một loạt các trò vui chơi giải trí để cho thấy sự đa dạng của quốc gia đó.
Những điểm mới này dựa trên sức mạnh của các cuộc vận động hành lang của các nhà sản xuất trong nước cũng như các cấp độ hội nhập của các nền kinh tế trong thị trường toàn cầu. Hội nhập càng nhiều thì càng khó duy trì hạn ngạch sản phẩm trong nước cao.
 Những thay đổi trong môi trường phát sóng
Trước sự ra đời của truyền hình vệ tinh, có khá ít kênh truyền hình do tín hiệu phát sóng bị giới hạn bởi tín hiệu trên mặt đất. Đường truyền trên mặt đất là những đường truyền được phát từ trạm phát trên vệ tinh. Với những đường truyền trên mặt đất, tín hiệu truyền hình chỉ có thể được nhận trong vòng một 50-60 km bán kính do độ cong của trái đất. Truyền hình vệ tinh đã thúc đẩy đáng kể vào sự phát triển của công nghệ phát sóng.
Chính sự phát triển của công nghệ phát sóng đã dẫn tới giai đoạn toàn cầu hóa của truyền hình trong suốt những năm 80, phần lớn là do giảm chi phí sử dụng các vệ tinh thông tin liên lạc. “Trong những năm 80, truyền hình đa kênh đã phủ sóng toàn thế giới. Lí do chính là chi phí phóng vệ tinh thông tin liên lạc giảm: công nghệ cho phép Liên Xô và Mỹ do thám lẫn nhau đã trở thành một phương tiện truyền tín hiệu vô tuyến không hề tốn kém.”
Ban đầu chỉ có các công ty truyền hình cáp mới có đủ khả năng nhập những loại ăng-ten khổng lồ dùng để để bắt tín hiệu, sau đó các công ty này sẽ truyền đường ăng ten này đến các chủ thuê bao lắp đặt. Số lượng các kênh truyền hình tăng đồng nghĩa với cơ hội sản phẩm của các nhà làm phim được chiếu trên truyền hình càng nhiều.
Phân khúc thị trường
Mặc dù sự chiếm lĩnh của ngành công nghiệp nghe nhìn Mỹ và mức độ phát triển của các kênh phát sóng ở các quốc gia trên toàn cầu, thị trường đại chúng đang ngày càng bị phân mảnh vì càng ngày càng có nhiều kênh phát sóng cho khán giả lựa chọn.
Hàm ý của thị trường phân khúc đại chúng đó là để thu hút được nhiều khán giả, các nhà làm phim có hai lựa chọn; hoặc là họ cần phải bỏ ra một nguồn ngân sách rất lớn để tiếp cận với số lượng lớn khán giả toàn cầu hoặc là họ chỉ bỏ ra nguồn ngân sách ít hơn và tiếp cận vào thị trường chuyên biệt nhỏ hơn.
Thị trường chuyên biệt nhỏ hơn do những nhà sản xuất tự do điều hành tốt hơn. Họ hiểu rõ nhu cầu của thị trường này và làm các bộ phim phi công thức cho các đối tượng khán giả cụ thể tốt hơn. Ngành công nghiệp điện ảnh của Nam Phi chủ yếu bao gồm các nhà làm phim tự do, những người có thể tận dụng các thị trường phân khúc quốc tế.
Các thị trường mới trong ngành công nghiệp toàn cầu
Trong khi Bắc Mỹ và Tây Âu vẫn là những thị trường quan trọng nhất đối với những bên tham gia vào lĩnh vực phương tiện truyền thông toàn cầu, thì vẫn có một số thị trường khác đóng vai trò quan trọng cho các ngành công nghiệp đang cố gắng phát triển thị trường chuyên biệt.
Các bên tham gia vào lĩnh vực phương tiện truyền thông toàn cầu tương đối thụ động trên lục địa châu Phi. Nhiều đài truyền hình ở châu Phi đã được tư nhân hóa nhưng có ít vốn để thu mua sản phẩm. Tuy nhiên vẫn có những thị trường đang phát triển về truyền hình vệ tinh. Đài truyền hình tư nhân có trụ sở ở Nam Phi, M-Net đã bắt đầu tận dụng thị trường này. M-Net hiện phát sóng truyền hình vệ tinh tới 1.1 triệu gia đình ở 37 quốc gia ở Châu Phi. Trong tháng 11 năm 1996, M-Net cũng cho ra mắt kênh truyền hình M-Net Egypt giống như một phần của truyền hình vệ tinh kỹ thuật số thuộc sở hữu của Đài phát thanh và truyền hình Ả rập (ART).
Ngoài ra còn có một số con đường tiếp cận vào thị trường này bằng cách sử dụng hệ thống đổi hàng. Đó là trao đổi các sản phẩm truyền hình cho thời gian quảng cáo thay vì thanh toán. Nó cung cấp cho các đài truyền hình những cách để có được sản phẩm chất lượng tốt mà không cần phải tốn nhiều tiền.
Công ty African Barter ở Nam Phi đã gặt hái được một số thành công nhờ cách tiếp cận này ở châu Phi. Họ đã bán thành công South African soap opera Egoli tới một số nước châu Phi. Tuy nhiên, về các sản phẩm thuộc về sân khấu, Châu Phi có thể sẽ không phải là một thị trường tiềm năng trong một thời gian. Trên thực tế, hiện nay nhiều rạp chiếu phim đã bị đóng cửa và chuyển thành các khu vực lưu trữ bởi vì thường không có nhiều người có thu nhập cao để thưởng thức loại hình giải trí này.
Một phương thức phát triển khác, có thể giúp phát triển thị trường công nghiệp điện ảnh ở châu Phi, là cam kết của nhóm điện ảnh Ster Kinekor ở Nam Phi (Thuộc sở hữu của Primedia) nhằm phát triển khu rạp chiếu phim ở Châu Phi. Hiện nay họ đang điều tra thị trường ở Zimbabwe, Botswana, Namibia, Uganda, Kenya, Mozambique, Malawi,
Zambia, Gabon và Cote d'Ivoire. Đông Âu từ lâu đã được xem là một thị trường mới đối với những người tham gia toàn cầu vì sự phát triển tầng lớp trung lưu giàu có.
Mỹ Latin cũng là một khu vực phát triển. 85% hộ gia đình ở Mỹ Latin có Ti vi và 11% đến 15% có ti vi truyền hình cáp hoặc truyền hình vệ tinh.
Châu Á được xem như là một trong những thị trường truyền thông phát triển nhanh nhất đối với những người tham gia toàn cầu.
Sở hữu trí tuệ
Giống như tất cả các ngành công nghiệp sử dụng chất xám, quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò rất quan trọng trong các ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình. Các bên có quyền với sản phẩm của mình sẽ kiếm tiền từ các sản phẩm đó, bất kể phim đó được quay ở đâu, nội dung thế nào và diễn viên là người nước nào, quốc tịch của các diễn viên hay ê kíp sản xuất.
Ví dụ bộ phim The Full Monty của Anh sản xuất. Đây là bộ phim thành công nhất của năm 1997 với doanh thu phòng vé của bộ phim này nhiều hơn 59 lần 2,1 triệu bảng Anh. Các nhà kinh tế học cho biết gần như 124 triệu bảng Anh đến từ bộ phim Rupert Murdoch của Mỹ. Điều này là bởi vì, công ty Fox Searchlight (một công ty con của tập đoàn News), tài trợ cho phim và do đó giữ lại bản quyền.
Khi các công ty nước ngoài tài trợ toàn bộ chi phí sản xuất cho một bộ phim, thì họ phải có quyền nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có nghĩa rằng toàn bộ lợi ích về kinh tế của sản phẩm sẽ không cộng dồn vào nước sản xuất ra bộ phim đó.
Hồng Nhung lược dịch .
Nguồn: afci.org(Còn tiếp)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác