Thái Bình Dương: Chiến lược phát triển và quảng bá ngành công nghiệp văn hoá

Thái Bình Dương: Chiến lược phát triển và quảng bá ngành công nghiệp văn hoá - ảnh 1
Pacific Ocean (Source: Internet)
(Cinet)- Các ngành công nghiệp văn hóa ở Thái Bình Dương cho thấy sự giàu có trong truyền thống từ cổ xưa tới văn hoá đương đại.Chiến lược phát triển và quản bá ngành công nghiệp văn hoá khu vực Thái Bình Dương đưa ra các giải pháp tạo sự liên kết giữa những người tham gia và các nhà sản xuất để hỗ trợ sự phát triển của các ngành văn hóa.

I. Giới thiệu:
Chương trình phát triển nhân lực của Ban Thư ký Cộng đồng Thái Bình Dương với mục tiêu thương mại hóa các ngành công nghiệp văn hóa khu vực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống người dân trong khu vực. Bằng việc xác định các chiến lược phát triển và tiếp thị đúng đắn, các bên liên quan tham gia vào ngành công nghiệp văn hóa ở Thái Bình Dương có thể tăng doanh số và dịch vụ của mình tại các thị trường địa phương, trong và ngoài quốc gia.
Khi các ngành công nghiệp văn hóa ở Thái Bình Dương được tổ chức và phát triển đúng đắn thì sẽ là một mảnh đất màu mỡ của các hoạt động kinh tế. Các nhà sản xuất sẽ có thể thu lợi về mặt tài chính từ các kĩ năng của họ và thúc đẩy tăng trưởng trong các doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ. Với lưu lượng thông tin ngày càng tăng lên, các kỹ năng kinh doanh ngày càng được cải thiện, hỗ trợ thiết kế phù hợp và chiến lược tiếp thị được phát triển đầy đủ và các tổ chức nhập khẩu, các nhà sản xuất văn hóa có thể liên kết với các tổ chức, các nhà khai thác văn hóa và khu vực tư nhân và hưởng lợi từ các thị trường du lịch béo bở trong và ngoài quốc gia. Cùng với đó, những cải tiến trong ngành công nghiệp văn hóa sẽ đảm bảo việc chuyển giao kiến ​​thức từ những thế hệ trước cho các thế hệ trẻ. Mà chính điều này sẽ giúp bảo tồn những kỹ năng và truyền thống trong nhiều năm tới.
 
II. Phân tích
1. Ngành văn hóa trong kinh tế toàn cầu
Mặc dù rất khó để xác định nhưng văn hóa đóng một vai trò rất quan trọng đối với các quốc gia, các nền kinh tế và đời sống hàng ngày trong khu vực Thái Bình Dương. Sản phẩm và dịch vụ văn hóa trong các ngành công nghiệp sáng tạo và văn hóa có giá trị nội tại giống như là truyền thống, niềm tin và tình cảm cũng như giá trị kinh tế khi giao dịch. Theo báo cáo kinh tế sáng tạo năm 2010 của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển thì giá trị kinh tế này đóng góp cho nền kinh tế toàn cầu 592 tỉ USD vào năm 2008. Từ năm 2002 đến năm 2008, các ngành công nghiệp sáng tạo đã tăng trưởng ổn định với tốc độ 14% mỗi năm. Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 vẫn còn ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế tòan cầu nhưng các chuyên gia dự đoán rằng nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ sáng tạo sẽ tiếp tục tăng trong tương lai. Phần lớn các giao dịch thương mại thế giới trong ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm sản phẩm sáng tạo, đạt 407 tỉ USD vào năm 2008, gần gấp đôi năm 2002 với 205 tỉ USD. Xuất khẩu các dịch vụ sáng tạo cũng có mức tăng trưởng ổn định trong cùng kỳ, tăng từ 62 tỉ USD năm 2002 lên 185 tỉ USD năm 2008.
 
Ở các quốc gia phát triển, các ngành công nghiệp sáng tạo cho thấy cho cả một động cơ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cũng như một thị trường tiềm năng cho việc nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Hiện nay, Châu Âu là nhà nhập khẩu sản phẩm sáng tạo lớn nhất tại Mỹ  vào khoảng 184 tỉ USD năm 2008, tăng 97% từ năm 2002 khi nhập khẩu đạt 93 tỷ USD. Mỹ, Nhật Bản và Canada là hai thị trường các quốc gia phát triển lớn tiếp theo với 123 tỉ USD nhập khẩu sản phẩm văn hóa năm 2008. Những thị trường này đã cho thấy sự tăng trưởng đáng kể trong thập kỷ qua với mức tăng trung bình 69% trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008 trong tất cả các nền kinh tế phát triển.
Nói chung, các ngành công nghiệp văn hóa càng ngày càng được đánh giá là nhân tố đóng góp có tính sáng tạo và tích cực cho nền kinh tế quốc gia. Có sự chuyển dịch hướng về các chính sách phát triển để cung cấp cho các ngành công nghiệp văn hóa các ưu đãi về thuế, tài chính công và can thiệp thị trường để kích thích tăng trưởng.
Các ngành công nghiệp văn hóa ở các quốc gia đang phát triển với mức độ tiếp cận ngày càng cao tới công nghệ và các hiệp định thương mại, các nền kinh tế đang phát triển ngày càng có nhiều cơ hội về thị trường và thâm nhập vào cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Xuất khẩu các sản phẩm từ các nền kinh tế đang phát triển đã tăng từ 1,4 ngàn tỉ lên 61 ngàn tỉ trong giai đoạn năm 2002 đến năm 2008. Xuất khẩu từ các nền kinh tế đang phát triển tới các nền kinh tế đang phát triển khác cũng tăng từ 828 tỉ USD lên 3 ngàn tỉ trong cùng kì, cho thấy tình hình kinh tế và giao dịch năng động hơn ở các quốc gia đang phát triển.
Hội nghị liên hiệp quốc tế về thương mại và phát triển năm 2010 miêu tả các ngành công nghiệp văn hóa giống như một tập hợp con của các ngành công nghiệp sáng tạo. Phân tích cụ thể các ngành công nghiệp văn hóa sẽ được trình bày sau trong báo cáo.
Xét về khía cạnh kinh tế ở các ngành công nghiệp văn hóa và khu vực Thái Bình Dương, Thái Bình Dương có quyền lựa chọn các quốc gia kém phát triển nhất thế giới và các quốc gia đang phát triển. Do đó, rất khó để chọn lọc ra những dữ liệu riêng cho khu vực Thái Bình Dương. Hơn nữa, các dữ liệu có sẵn cho các quốc gia các quốc gia kém phát triển nhất thế giới và các quốc gia đang phát triển vẫn còn rất hạn chế. Thái Bình Dương là một phần của nhóm ba quốc gia là Africa, Caribê and Pacific, đại diện cho 79 quốc gia từ châu Phi, Caribê và Thái Bình Dương. Và, do tính chất văn hóa và kinh tế đa dạng và rất rộng của nhóm nên việc phân loại dữ liệu cho chỉ khu vực Thái Bình Dương là khá khó khăn. Tuy nhiên, các dữ liệu hiện có từ cả ba khu vực thể hiện tầm quan trọng của các ngành công nghiệp sáng tạo và có thể được sử dụng là một tài liệu tham khảo để phát triển tiềm năng các ngành công nghiệp sáng tạo tại Thái Bình Dương.
Thái Bình Dương: Chiến lược phát triển và quảng bá ngành công nghiệp văn hoá - ảnh 2
Pacific Ocean (Source: Internet)

Trong thập kỷ qua, Các quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương đã báo cáo dữ liệu bao gồm quần đảo Cook, Fiji, Pô-li-nê-di, Kiribati, New Caledonia, Pa-pua Niu Ghi-nê  và Vanuatu. Các báo cáo của họ không có sự liên kết và không nắm bắt được tầm quan trọng đầy đủ của các ngành công nghiệp sáng tạo trong khu vực. Các quốc gia báo cáo kim ngạch xuất khẩu sản phẩm sáng tạo trong năm 2008 đạt 27 triệu USD, tăng 20 triệu USD so với năm 2002. Mặc dù phần lớn mức tăng trưởng 386% có thể là do số liệu thống kê ngày càng tăng, đặc biệt là từ Pô-li-nê-di, bắt đầu báo cáo vào năm 2004, khu vực này đã nhìn thấy tốc độ tăng trưởng hàng năm ổn định ở mức 15,76% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm sáng tạo từ năm 2002 đến năm 2008.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp sáng tạo từ Thái Bình Dương tăng nhưng khu vực này vẫn nhập khẩu các sản phẩm nhiều hơn xuất khẩu. Dữ liệu hiện tại cho thấy rằng trong năm 2008, Thái Bình Dương nhập khẩu 184 triệu USD sản phẩm sáng tạo trong khi chỉ xuất khẩu 27 triệu USD, cho thấy mức thâm hụt 157 USD sản phẩm sáng tạo trong khu vực. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu sản phẩm sáng tạo đến Thái Bình Dương khá chậm. Giữa năm 2002 và 2008 kim ngạch nhập khẩu tăng với tốc độ hàng năm là 7%, nhưng từ năm 2004 đến năm 2008, kim ngạch nhập khẩu giảm trung bình 24% mỗi năm.
2. Các ngành văn hóa ưa chuộng tại Châu Âu
Thủ công
Đồ thủ công thuộc nhiều lĩnh vực thị trường trên thị trường toàn cầu bao gồm cả trang trí nhà, quà tặng, phụ kiện thời trang và thị trường xuất khẩu đồ nội thất. Những thị trường này cũng trùng với thị trường thiết kế nội thất và đôi khi là thị trường kiến ​​trÚc. Thị trường đồ trang trí và nội thất phát triển mạnh nhất, chiếm 418 tỉ USD trong doanh số bán hàng toàn cầu năm 2007. Thị trường phụ kiện thời trang, quà tặng và quà lưu niệm hơi khó xác định do tính chất đặc biệt của các mặt hàng này. Trong năm 2009, doanh thu của thị trường phụ kiện thời trang đạt hơn 20 tỷ USD, chỉ tính riêng đồ trang sức thời trang, túi xách, tất và kính mát. Thị trường quà tặng và quà lưu niệm, từ thiệp chúc mừng đến giỏ tự làm bằng tay đạt gần 21 tỷ USD doanh thu trong giữa những năm 2000.
Tuy nhiên, mặc dù có nền tảng thị trường rộng vững chắc nhưng ngành thủ công mĩ nghệ phải cạnh tranh với một loạt các sản phẩm khác trên thị trường bao gồm hàng thủ công, bán thủ công và các sản phẩm làm bằng máy. Ví dụ, người mua tại một hội chợ thương mại bán buôn có thể tìm thấy mọi thứ mình cần, từ một chiếc giỏ làm bằng  dây điện thoại Nam Phi có giá 500 USD và một hộp đựng thẻ nhựa 0.5 USD. Để giúp thu hẹp các cơ sở của nhu cầu thị trường, một nghiên cứu của Cơ quan quốc tế Mỹ năm 2006 sử dụng thị trường phụ kiện nhà ở như một chỉ số đo nhu cầu đối với các sản phẩm thủ công. Nghiên cứu cho thấy rằng, ước tính giá trị thị trường toàn cầu đối với các sản phẩm phụ kiện nhà ở ít nhât là 100 tỷ USD. Doanh thu các thị trường khu vực Mỹ đạt 67 tỉ USD mỗi năm; Châu Âu đứng ở vị trí thứ hai với doanh thu đạt xấp xỉ 48 tỷ USD mỗi năm.
Việc phân loại sản phẩm của thị trường châu Âu mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về tiềm năng thị trường. Trong năm 2005, thị trường quà tặng và đồ trang trí châu Âu (EU-25) có doanh thu đạt khoảng 13 tỷ USD. Trong năm 2003, doanh thu nhập khẩu thị trường đồ dùng gia đình và hàng dệt may trang trí nội thất đạt khoảng 6,3 tỷ USD nhập, trong đó 3,4 tỉ USD đến từ các quốc gia đang phát triển. Trong cùng năm đó, doanh thu nhập khẩu thị trường đồ nội thất châu Âu đạt khoảng 29 tỷ USD, trong đó 5,6 tỉ USD đến từ các quốc gia đang phát triển.
Hội nghị liên hiệp quốc tế về thương mại và phát triển cũng lưu ý rằng, trong các ngành công nghiệp văn hóa thì đồ thủ công có sự xâm nhập tốt nhất vào thị trường toàn cầu, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Thị phần của đồ thủ ở các quốc gia đang phát triển chiếm 65% trên thị trường thế giới so với các ngành công nghiệp sáng tạo. Các sản phẩm thiết kế từ các quốc gia đang phát triển, bao gồm cả đồ trang sức, thời trang, đồ thủy tinh, đồ nội thất và đồ chơi có thể được coi là các sản phẩm thủ công, chiếm 50% nhu cầu thế giới trong năm 2008.
Mặc dù đồ thủ công có tiềm năng lớn trên thị trường toàn cầu nhưng các nhà sản xuất từ các quốc gia đang phát triển vẫn phải đối mặt với một số thách thức. Thị trường đồ thủ công chính tách biệt với thị trường “thương mại hội chợ” và đặt ra nhiều nhu cầu thương mại cao đối với các nhà sản xuất. Có rất ít chỗ cho đàm phán về chất lượng sản phẩm, giá cả và thời gian hoàn thành đơn đặt hàng. Nếu nhà sản xuất không thể thực hiện đơn đặt hàng đúng thời gian đầu tiên, danh tiếng của họ trên thị trường có thể bị hủy hoại, và đơn đặt hàng trong tương lai bị hủy hoại. Thị trường hàng thủ công không chỉ có tính cạnh tranh mà còn không được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cao, có nghĩa là các mẫu mã hàng thủ công thường bị chiếm dụng bởi các nhà xuất khẩu châu Á và được sản xuất và được bán với mức giá thấp hơn trong chu kỳ thị trường tiếp theo. Hơn nữa, một số vấn đề về hàng thủ công ngày càng tăng bao gồm vòng đời ngắn hơn (một phần do chiếm dụng mẫu thiết kế) và chuyển đổi từ thiết kế truyền thống sang thiết kế tối giản nhất/hiện đại. Để cho các nhà sản xuất hàng thủ công ở Thái Bình Dương cạnh tranh với các đối thủ, họ sẽ cần phải phân biệt mình với kiểu dáng xu hướng, mạnh mẽ và các chiến lược tiếp thị năng động.
Nghệ thuật thị giác
Nghệ thuật thị giác dựa trên bốn hình thức chủ yếu của nghệ thuật thị giác bao gồm nhiếp ảnh, hội họa, điêu khắc và đồ cổ; các hình thức nghệ thuật mới nổi khác, chẳng hạn như nghệ thuật sắp đặt, được bao gồm trong các loại này. Theo báo cáo Kinh tế sáng tạo của Hội nghị liên hiệp quốc tế về thương mại và phát triển năm 2010, nghệ thuật thị giác có tiềm năng với 28,9 tỉ USD kim ngạch nhập khẩu trong năm 2008, tăng từ 17 tỷ USD vào năm 2002. Từ năm 2002 – 2008, mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 12,8% cho thấy, nhu cầu về nghệ thuật thị giác trên thế giới ổn định và ngày càng cao. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng mặc dù kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nghệ thuật thị giác tăng nhưng thị phần của thị trường các ngành công nghiệp sáng tạo toàn cầu không có biến đổi gì trong giai đoạn 2002 -  2008 (5,77% năm 2002 và 5,02% năm 2008).
Sự phát triển của nghệ thuật thị giác nằm ở sự phát triển doanh số của cả nghệ thuật đương đại và cổ vật. Trong thị trường châu Âu, kim ngạch nhập khẩu nghệ thuật thị giác vẫn ở mức cao trong thập kỷ qua, tăng từ 7,5 tỷ USD năm 2002 lên 13 tỷ USD vào năm 2008. Phản ánh xu hướng toàn cầu, ngành hội họa là ngành phát triển mạnh nhất trong các thị trường châu Âu, kim ngạch nhập khẩu đạt 6 tỷ USD trong 2008, và nghệ thuật điêu khắc ở vị trí thứ hai với kim ngạch nhập khẩu đạt 4 tỷ USD trong năm 2008. Kim ngạch nhập khẩu đồ cổ và nhiếp ảnh cũng tăng trong giai đoạn 2002 - 2008 với 2 tỷ USD trong năm 2002 và 818 triệu USD trong năm 2008.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm tranh vẽ tăng từ 6,3 tỷ USD năm 2002 lên 15 tỷ USD năm 2008, chiếm khoảng một nửa tổng xuất khẩu của nghệ thuật thị giác trong năm 2008.
Giá trị xuất khẩu các tác phẩm điêu khắc cả tác phẩm điêu khắc trang trí truyền thống và nghệ thuật điêu khắc đương đại đạt gần 9 tỷ USD trong năm 2008, tăng từ 5 tỷ USD trong 2002. Ấn tượng hơn, gần một nửa giá trị xuất khẩu các tác phẩm điêu khắc xuất phát từ các nền kinh tế đang phát triển. Các nền kinh tế đang phát triển cũng dẫn đầu thị trường mặt hàng đồ cổ, tăng từ 2,2 tỷ USD năm 2002 lên 3,2 tỉ USD năm 2008.
Doanh thu xuất khẩu ngành nhiếp ảnh vẫn giữ vững 2,5 tỷ USD toàn cầu trong năm 2008. Tuy nhiên, các quốc gia đang phát triển tăng thị xuất khẩu ngành nhiếp ảnh từ 8% năm 2002 lên 17% năm 2008. Đồng thời, doanh số bán hàng trong tất cả các loại phương tiện truyền thông thường bị đánh giá thấp vì dữ liệu không nắm bắt được doanh thu ở thị trường không chính thống hoặc du lịch.
Các quốc gia đang phát triển đã tăng mức đầu tư vào thị trường nghệ thuật thị giác, từ 3,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu trong năm 2002 lên 7,1 tỷ USD trong năm 2008, nhưng sự thâm nhập của họ trên thị trường vẫn còn tương đối nhỏ.
Ở thị trường chủ yếu là New York và London, doanh số bán hàng đạt 4 tỷ USD và 1,8 tỷ bảng Anh trong năm 2006. Trong năm 2008, thị phần xuất khẩu nghệ thuật thị giác toàn cầu ở các quốc gia đang phát triển chỉ đạt 23%, tăng không đáng kể so với mức doanh thu 22% trong năm 2002. Nghệ thuật thị giác chỉ chiếm 11% lượng xuất khẩu sản phẩm sáng tạo từ các quốc gia kém phát triển và chỉ có 4% từ Châu Đại Dương và các quốc gia đang phát triển năm 2008. Trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác, thị phần chính của lượng xuất khẩu sản phẩm sáng tạo có sự chênh lệch giữa các quốc gia kém phát triển, Châu Đại Dương và các quốc gia đang phát triển. Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu nghệ thuật thị giác từ các quốc gia kém phát triển bao gồm chủ yếu là đồ cổ (80% tổng kim ngạch xuất khẩu nghệ thuật thị giác) trong khi hàng tranh vẽ đạt 57% kim ngạch xuất khẩu từ Châu Đại Dương và SIDS. Xếp sau tranh vẽ là điêu khắc, ở mức 29% và cổ vật ở mức 14%. Kim ngạch xuất khẩu nhiếp ảnh từ Châu Đại Dương và SIDS ở mức không đáng kể.
Theo báo cáo Creative Diversity của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc phát hành trong năm 2009, các ngành nghệ thuật thị giác, bao gồm vẽ, điêu khắc, bản in tác phẩm điêu khắc và tạc tượng, phần lớn được độc quyền bởi các quốc gia phát triển, khu vực Thái Bình Dương nắm giữ chỉ 0,6% lượng xuất khẩu sản phẩm nghệ thuật thị trên thị trường xuất khẩu toàn cầu.(UNESCO 2009: 166).
Mặc dù thị trường nghệ thuật quốc tế có tiềm năng cho các nghệ sĩ ở các quốc gia đang phát triển nhưng đối với các nghệ sĩ không phải phương Tây, khả năng tiếp cận thị trường này bị hạn chế bởi sự thiếu minh bạch, cạnh tranh khốc liệt và “rào chắn vô hình”. Thị trường chủ yếu là Mỹ và Anh chiếm 47% tổng doanh số của nghệ thuật thị giác quốc tế, thường đổ sản phẩm vào thị trường New York hay London. Theo sau Mỹ và Anh là Pari, Béc lin, Giơ-ne-vơ và Tokyo với thị trường mới nổi Nga, châu Á và Trung Đông (UNESCO 2009: 166).
Các nghệ sĩ ở các quốc gia đang phát triển cũng thường phải vật lộn để cạnh tranh trong chính quốc gia của mình. Ví dụ, các thị trường trong quốc gia tại vùng biển Caribê tập trung vào các phòng trưng bày nghệ thuật thương mại chủ yếu bằng chất liệu dầu và màu quốc gia. Xu hướng này cũng đúng với khu vực Thái Bình Dương. Trong khu vực này, hầu hết các quốc gia không có không gian trưng bày chính thống và chuyên nghiệp để triển lãm và bán các tác phẩm của họ.
Hầu hết các ngành nghệ thuật ở thị trường Mỹ và liên minh Châu Âu được bán thông qua các nhà bán đấu giá nghệ thuật, trong đó ưu tiên thành lập, nghệ sĩ phương Tây. Năm 2004, Các nhà đấu giá lớn nhất, của Sotheby và Christie, bán được ít nhất 378 sản phẩm, mỗi sản phẩm có giá hơn 1 triệu USD (CRNM 2008). Các thông tin về doanh số bán hàng của họ hiếm khi được tiết lộ và tiền hoa hồng bán đấu giá có thể lên tới 20% vào mỗi cuối phiên trúng thầu. Hơn nữa, danh tính của người bán hàng và người mua thường được giữ lại, làm bó hẹp dòng chảy của thông tin thị trường.
Các phòng trưng bày cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bán các sản phẩm nghệ thuật và thậm chí còn ít minh bạch hơn so với các nhà đấu giá. Doanh số bán hàng dựa trên thông tin nội bộ và những mặt hàng được ưa chuộng; các phòng trưng bày hiếm khi báo cáo doanh số bán hàng công khai. Những nhà bán đấu giá và phòng trưng bày có thể hoạt động trong môi trường kinh doanh thiếu minh bạch này do quy định của ngành còn hạn chế và thiếu các giấy phép cần thiết để vận hành một phòng trưng bày. Có một thị trường trực tuyến hạn định bán hàng trực tuyến đối với các tác phẩm nghệ thuật in ấn. Đáng chú ý, đấu giá trực tuyến có thể thành công đối với sản phẩm có giá dưới 50.000 USD (Nurse năm 2006).
Các nghệ sĩ từ các quốc gia đang phát triển cũng phải đối mặt với hệ thống phân cấp quyền lực cố thủ trong thị trường nghệ thuật. Năm 2003, trong số 87 nghệ sĩ có tác phẩm được trưng bày tại Trung tâm Georges Pompidou ở Paris thì chỉ có 39% là người không phải từ châu Âu và chỉ 5,7% là từ các quốc gia đang phát triển (Brazil, Trung Quốc và Hàn Quốc). Trường hợp này cũng đúng với Art Basel, một hội chợ có ảnh hưởng lớn ở Đức. Tại đây, vào năm 2000 và 2005, chương trình hầu hết do Đức, Mỹ, Thụy Sĩ, Pháp, Anh và Ý nắm giữ(UNESCO 2009: 166). Trong bài báo khái quát năm 2007 của UNESCO, nhà phụ trách và nhà phê bình quốc tế, Okwui Enwezor và Jean Fischer, chỉ ra rằng mặc dù quá trình toàn cầu hóa và sự đánh giá ngày càng cao đối với thuyết tương đối văn hóa trong thị trường nghệ thuật quốc tế nhưng sự công nhận các nghệ sĩ quốc gia đang phát triển vẫn còn hạn chế.
Thái Bình Dương: Chiến lược phát triển và quảng bá ngành công nghiệp văn hoá - ảnh 3
 A culture of Colombia belonging to Pacific Ocean ( Source:Internet)

Công nghiệp thời trang
Ngành công nghiệp thời trang thời trang toàn cầu có cả tiềm năng và thách thức đối với khu vực Thái Bình Dương. Ngành công nghiệp này thường được tách ra thành ba loại bao gồm haute couture (thời trang cao cấp), Pret-a-porter (đồ may sẵn) và thời trang thị trường đại chúng.
Các nhà thiết kế sản phẩm thời trang cao cấp tạo ra quần áo, giày dép, nước hoa, đồ trang sức và phụ kiện thời trang dưới cùng một thương hiệu. Những mặt hàng này được bán thông qua các sự kiện thời trang có tầm ảnh hưởng lớn và căn cứ vào thương hiệu sản phẩm. Mặt hàng đồ may sẵn cũng được bán dựa trên thương hiệu nhưng có thể được tìm thấy trong các cửa hàng, và ngày càng thông qua các kênh mua bán trực tuyến. Thời trang thị trường đại chúng được bán thông qua các buổi triển lãm chuyên về loại hàng dệt may (ví dụ như giày dép, áo cưới, đồ trẻ em), và ngày càng thông qua kênh bán hàng trực tuyến. Thị trường đại chúng và các phụ kiện thời trang handmade cũng được bán thông qua các buổi triển lãm và kênh bán hàng trực tuyến (Marketing thời trang thứ 3 ed 2009).
Trong năm 2006, doanh thu ngành công nghiệp may mặc toàn cầu là 1252.7 tỉ USD và dự kiến ​​sẽ tăng lên 1781.7 tỉ USD vào cuối năm 2010 bao gồm cả nhập khẩu, sản xuất và tiền lương. Những số liệu này bao gồm cả hàng thời trang cao cấp, đồ may sẵn và đặc biệt là hàng may mặc thị trường đại chúng. Kim ngạch nhập khẩu thời trang sang châu Âu đạt 53.6 tỉ USD trong năm 2006. Kênh bán lẻ chủ yếu là thông qua các cửa hàng, chiếm 92,9% thị phần. Mặc dù doanh số bán hàng trực tuyến đã tăng kể từ đầu những năm 2000 vẫn cần lưu ý là doanh số bán lẻ tại các cửa hàng vẫn mạnh đối với ngành công nghiệp may mặc. Do tính chất cá nhân hóa của ngành công nghiệp thời trang (phù hợp với các kiểu quần áo, thị hiếu của người tiêu dùng, kết cấu và chất liệu, vv) nên người tiêu dùng vẫn muốn cầm thử, cảm nhận và thử các mặt hàng may mặc trước khi mua.
Ngoài ra, người tiêu dùng nhạy cảm về giá cả trong thị trường may mặc đang đẩy mạnh thương hiệu để củng cố chuỗi giá trị của họ. Thị trường may mặc sản xuất nhiều/giá trị thấp đang ngày càng cạnh tranh giá cả và dựa vào lao động rẻ mạt. Do chi phí lao động cao hơn và quy mô dân số thấp, khu vực Thái Bình Dương cần tập trung vào phương pháp thiết kế đến sản xuất tổng thể trong ngành công nghiệp thời trang, nhắm vào các thị trường cao cấp hoặc tầm trung vì khách hàng của những thị trường này không nhạy cảm về giá.
Trong thị trường ngành thời trang, các sản phẩm đều có giá trị về thẩm mỹ độc đáo, nguyên vật liệu chất lượng, được gia công tinh xảo và có thương hiệu trên thị trường. Tạo dựng và duy trì một thương hiệu là một yếu tố cạnh tranh quan trọng trong thị trường cao cấp. Một số thương hiệu như Chanel, đã thiết kế các sản phẩm và đặt ra các xu hướng trong hơn một trăm năm, tạo niềm tin với khách hàng  và cho phép sản phẩm của mình có giá cao. Xét về chương trình khuyến mãi, các tuần lễ thời trang đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các thương hiệu và các nhà thiết kế mới nổi và danh tiếng trên toàn thế giới . Mỹ tổ chức hầu các sự kiện thời trang hàng năm, nhưng quốc gia này không có uy tín như các sự kiện thời trang châu Âu. Thời trang châu Âu được quảng bá bởi các sự kiện thường niên được tổ chức tại Paris và Milan, thủ đô thời trang truyền thống của châu lục này. Lịch sử lâu dài của thời trang Châu Âu đồng nghĩa với việc nhiều nhà thiết kế thời trang mới có thể được cố vấn trong thiết kế nhà ở (như Chanel và Givenchy). Mặt khác, tại Mỹ, ngành công nghiệp này được hỗ trợ bởi các chuyên gia tài chính tư nhân, chẳng hạn như thương mại Corp FTC, khuyến khích các nhà thiết kế mới nổi và tổ chức các buổi trình diễn thời trang trong khu vực.
Như đã nói, các xu hướng chính trong ngành công nghiệp thời trang bao gồm thương mại điện tử và củng cố chuỗi giá trị ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, một xu hướng quan trọng hơn đối với các quốc gia đang phát triển là hướng tới tìm nguồn chất liệu thổ cẩm, phát triển bền vững, các mẫu thiết kế hướng tới thân thiện với môi trường . Một nghiên cứu của TNS Worldpanel năm 2008 cho thấy 72% người tiêu dùng Anh nghĩ rằng sản phẩm quần áo mang tính dân tộc rất quan trọng. Các nhà nghiên cứu thị trường ở Mintel ước tính quần áo mang tính dân tộc ở thị trường Anh  đã tăng gấp bốn lần so với 5 năm trước đó đạt mức 294 triệu USD (McAspurn 2009). Báo cáo năm 2005 của Ngân hàng Hợp tác Anh thấy rằng xu hướng tương tự với tiêu thụ sản phẩm mang tính dân tộc ở Anh, tăng trong 6 năm liên tiếp. Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng thời trang mang tính dân tộc được định giá 680 triệu bảng Anh trong năm 2005 (Domeisen 2006).
Xu hướng này cho thấy cả thách thức và cơ hội đối với khu vực Thái Bình Dương. Nếu các nhà thiết kế và các nhà sản xuất ở Thái Bình Dương có thể tập trung sản xuất các tiêu chuẩn lao động có đạo đức và nguyên liệu sinh thái thân thiện, họ có thể tận dụng xu hướng này làm lợi thế của mình. Các nhà sản xuất phải tuân thủ các tiêu chuẩn lao động nghiêm ngặt, tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với chi phí sản xuất cao.
Các công ty dệt may và trang phục trong quốc gia đang phát triển cần phải có một cách tiếp cận toàn diện hơn cho ngành công nghiệp thời trang để ddatj đuược thành công. Trước đây, các quốc gia phát triển trên thế giới tập trung vào sáng tạo các sản phẩm dệt may và sợi trong chuỗi giá trị hàng may mặc (Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc 2003). Tuy nhiên, để thu hút thêm nhiều thị trường thời trang quan trọng thì các quốc gia đang phát triển phải có một cách tiếp cận tích hợp đối với ngành thời trang bao gồm thiết kế, phát triển và sản xuất hàng dệt và may mặc. Các quốc gia đang phát triển có tiềm năng phát triển hàng dệt dân tộc và độc đáo của họ trên thị trường thế giới, nhưng họ cần phải hiểu biết hơn về các xu hướng hiện tại, và phát triển một thương hiệu mạnh.
Các quốc gia đang phát triển đã thể hiện được tiềm năng mạnh mẽ trong ngành công nghiệp thời trang là Brazil, Nam Phi, UAE, Singapore, Ấn Độ và Nga. Những quốc gia này đã có danh tiếng trong làng thời trang quốc tế vì đã tổ chức các sự kiện thời trang quốc tế được đánh giá cao và quan tâm tới các thương hiệu trong nước trong thị trường quốc gia đầu tiên (nghiên cứu Grail 2009). Để khu vực Thái Bình Dương cạnh tranh với các trung tâm thời trang đang nổi lên thì họ cần sự hỗ trợ của chính phủ, các thương hiệu thời trang mạnh trong nước và các sự kiện thời trang tầm cỡ quốc tế.
III. Định hướng quảng bá các ngành công nghiệp văn hóa
Quan hệ đối tác khu vực
Để Thái Bình Dương có thể cạnh tranh trong một ngành công nghiệp văn hóa cụ thể thì cần phải có một số lượng lớn các sản phẩm để người mua có thể chọn. Khách hàng mua đồ thủ công, đặc biệt là ở các thị trường trang trí nhà ở và thời trang, bị thu hút bởi hàng loạt sản phẩm. Các sản phẩm đó thường là phương tiện đa truyền thông và được tạo ra dựa trên một loạt các kỹ năng. Bằng cách kết hợp các sản phẩm văn hóa từ các nước khác nhau ở Thái Bình Dương, các doanh nghiệp có thể phát triển những bộ sưu tập thủ công hấp dẫn, mà sẽ dễ dàng lọt vào mắt xanh của những khách hàng tiềm năng. Các nhạc sĩ và biên đạo múa mà sáng tạo ra các tác phẩm dựa trên nhiều nét truyền thống trong khu vực thì có thể tiếp cận vào các thị trường thích hợp hơn với sức hấp dẫn của họ . Trong bối cảnh rộng lớn hơn, việc kết nối các doanh nghiệp trong khu vực sẽ làm nổi bật sự phong phú của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa trong Thái Bình Dương.
Trao đổi văn hóa
Sự hợp tác trong khu vực có thể dẫn tới trao đổi các nền văn hóa giữa các khu vực với nhau. Đây là một yếu tố quan trọng của các ngành công nghiệp sáng tạo. Sự trao đổi văn hóa trong các ngành công nghiệp văn hóa đề cập đến ý tưởng của hai nét truyền thống, kiểu dáng, hoa văn vv riêng biệt, kết hợp với nhau để tạo thành một sản phẩm hay dịch vụ văn hóa mới. Hầu hết các thể loại âm nhạc tuyệt vời bắt đầu theo cách này: jazz là sự hòa quyện của âm nhạc phổ biến Châu Mỹ và nhịp điệu của châu Phi, và các thể loại âm nhạc được tạo ra thông qua sự tiến hóa của điệu nhạc ska và rocksteady. 
Văn hóa không ngừng chuyển động và dựa vào những cơ hội giao lưu văn hóa để cho ra các sáng kiến ​​ và trào lưu tuyệt vời. Mặc dù sự giao lưu văn hóa xảy ra một cách tự nhiên nhưng các tổ chức chính phủ và nghệ thuật có thể thúc đẩy các ý tưởng chia sẻ và trao đổi các ý tưởng văn hóa. Các buổi triển lãm nghệ thuật quốc tế là một trong những ví dụ về các cơ hội trao đổi và chia sẻ văn hóa chính thức hóa hơn. Một ví dụ khác là sự thúc đẩy liên hoan múa Pan-African để tạo ra các cơ hội trao đổi văn hóa ở Châu Phi. UNDP tài trợ ba nghệ sĩ từ National Ballet of Rwanda và hai nghệ sĩ từ Hiệp hội Nghệ thuật Sáng tạo Nyansa và Victoria để hộ tác với một tổ chức phi chính phủ của Brazil. Ở cuối mỗi trải nghiệm, các nhóm trưng bày tại Diễn đàn văn hóa thế giới và Hội nghị Quốc tế về Kinh tế Sáng tạo về sự phát triển ở Rio de Janeiro. Cùng với đó họ đã tạo ra hơn 300 mặt hàng sử dụng các kỹ thuật hợp tác của tie-dye, batik và sàng lọc lụa. Các nghệ sĩ không chỉ học hỏi những kỹ năng và kỹ thuật khác nhau mà họ còn tận dụng các cơ hội để tung ra sản phẩm của họ vào thị trường.
Quan hệ đối tác khu vực tư nhân
Không nhiều thương hiệu từ các quốc gia đang phát triển có thể cạnh tranh với một số hãng như Louis Vuitton, Prada và Channel. Nhưng với sự hỗ trợ và giúp đỡ của các công ty nổi tiếng thế giới này, doanh nghiệp ở các quốc gia đang phát triển trên thế giới có thể tận dụng các thương hiệu lớn để thâm nhập thị trường thế giới. Một ví dụ về khu vực tư nhân là quan hệ đối tác giữa Louis Vuitton và Edun, một công ty thuộc sở hữu của U2's Bono và vợ ông. Cùng với đó, họ đã tìm đến Made, một nhóm nghệ sĩ Kenya biểu diễn ở hội chợ thương mại, để xây dựng một bộ sưu tập mới thể hiện cuộc hành trình của con người từ châu Phi. Bộ sưu tập đã thành công một cách rộng rãi và thu lợi từ thương hiệu của cả Louis Vuitton và ngôi sao quyền lực Bono.
Quan hệ đối tác khu vực công
Nhiều chương trình trên thế giới hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các ngành công nghiệp văn hóa ở các quốc gia đang phát triển; chương trình phát triển liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, trung tâm thương mại thế giới, Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ, Cơ quan Phát triển Quốc tế Châu Âu, chỉ là một vài trong số đó. Tuy nhiên, sự hỗ trợ từ quốc gia cho các ngành công nghiệp văn hóa cũng rất quan trọng. Chính phủ cần đưa ra các chính sách xuất khẩu và ngành công nghiệp văn hóa để thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa ở đất nước họ phát triển. Đối với sáu ngành công nghiệp thời trang mới nổi hàng đầu (được thảo luận ở trên), nguồn hỗ trợ của chính phủ đóng vai trò rất quan trọng trong năm quốc gia. Trong ngành công nghiệp thời trang của Nam Phi, nguồn hỗ trợ của chính phủ rất quan trọng cho sự phát triển thành một kinh đô thời trang mới.
Trong cả hai viễn cảnh quan hệ đối tác nhà nước và tư nhân, các nhà sản xuất dựa vào các bên trung gian để giúp kết nối họ với các công ty lớn của phương Tây và xây dựng các kỹ năng kinh doanh của mình. Những bên trung gian mang lại cả vốn xã hội và tài chính để hỗ trợ các doanh nghiệp trên thế giới phát triển.
Phát triển các thị trường trong nước vào thị trường xuất khẩu, bao gồm cả các thị trường trong nước và thị trường khách du lịch, là một bước quan trọng trong việc tạo ra các ngành xuất khẩu thành công. Thị trường trong nước giúp hỗ trợ khâu sản xuất sản phẩm, và giúp các nhà sản xuất tìm hiểu các kỹ năng kinh doanh với một mức độ rủi ro thấp hơn có thể gặp phải tại các thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, thị trường khách du lịch cho phép các nhà sản xuất kiểm tra các sản phẩm trên thị trường với một mức đầu tư nhỏ hơn trong khâu phân phối, và thu thập thông tin phản hồi từ người tiêu dùng trên thị trường xuất khẩu một cách trực tiếp. Thị trường khách du lịch cũng giúp xây dựng sự hiện diện của quốc gia trên thị trường xuất khẩu. Ngành công nghiệp thời trang Nam Phi được công nhận trên phạm vi quốc tế chỉ sau khi nhãn hiệu thời trang trong nước phổ biến ở thị trường trong nước.
Các lễ hội
Các lễ hội thường đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc gia. Lễ hội Carnival ở Brazil, Colombia, Cuba và Trinidad và Tobago mang lại cả lợi ích kinh tế và văn hóa cho mỗi quốc gia. Về mặt kinh tế, các lễ hội mang lại những lợi ích quan trọng. Về mặt văn hóa, họ thúc đẩy nền âm nhạc và khiêu vũ của mỗi quốc gia vào tầm ngắm của quốc tế. Các lễ hội cũng có vai trò giống như giai đoạn thử nghiệm cho các nghệ sĩ kiểm tra các sản phẩm mới và cho các doanh nghiệp phát triển kỹ năng của họ. Lễ hội Carnival ở Brazil có doanh thu ước tính hàng năm khoảng 600 triệu USD và tạo cơ hội việc làm cho gần nửa triệu người. Tuy nhiên, để các lễ hội gặt hái được lợi ích kinh tế này thì chúng cần phải được tiếp thị đúng cách và giới thiệu các sản phẩm văn hóa phù hợp với thị trường mục tiêu.
Xây dựng thương hiệu
Xây dựng thương hiệu vẫn là trọng tâm của chiến lược tiếp thị truyền thống và đang trở thành một phần quan trọng hơn bao giờ hết trong việc phân biệt các sản phẩm và doanh nghiệp trong tất cả các ngành công nghiệp. Người tiêu dùng ngày càng có ý thức hơn về tình trạng của họ và cách các sản phẩm và dịch vụ có thể giúp củng cố tình trạng này. Lưạ chọn các thương hiệu cao cấp, thương hiệu thân thiện với môi trường, thương hiệu trong nước, người tiêu dùng đều mong muốn trở nên sành điệu hơn. Xây dựng thương hiệu có thể giúp tận dụng một công ty nhỏ, ít được biết đến trở thành tâm điểm của quốc tế.
Xây dựng thương hiệu có thể xảy ra trên nhiều cấp độ bao gồm cả khu vực, quốc gia, cấp ngành và công ty. Một thương hiệu ngành và công ty thành công có thể nâng cao hình ảnh của một quốc gia và ngược lại. Thái Bình Dương có thể xây dựng lại và tận dụng thương hiệu ngành du lịch của mình để xây dựng hình ảnh về một khu vực  đa dạng văn hóa. Tuy nhiên, công tác xây dựng thương hiệu ở tất cả các cấp đòi hỏi cần có nguồn đầu tư đáng kể. Các thương hiệu không chỉ mô tả sản phẩm mà còn phải thể hiện được bản chất của một doanh nghiệp. Ngoài ra, các thương hiệu nên được xem như là lời hứa mà doanh nghiệp đưa ra cho người tiêu dùng và các công ty nên dành nhiều thời gian xây dựng thương hiệu của mình để đảm bảo rằng họ đang thực hiện những lời hứa mà họ đã hứa.
Các chiến lược tiếp thị sáng tạo
Khách hàng thực hiện: được ghi nhận bởi trang Trendwatching.com như một xu hướng, khách hàng thực hiện đề cập đến những trải nghiệm độc đáo của các nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng tạo ra một sản phẩm với nhau. Theo định nghĩa của Trendwatching.com, khách hàng thực hiện là:
Hiện tượng của các tập đoàn tạo ra hàng hóa, dịch vụ và trải nghiệm trong một mối quan hệ hợp tác gần gũi với người tiêu dùng giàu kinh nghiệm và sáng tạo, khai thác vào vốn trí tuệ của họ, và trao đổi các ý kiến (và khen thưởng cho họ) về những gì thực sự được sản xuất, chế tạo, phát triển, thiết kế, dịch vụ, hoặc chế biến.
Các sản phẩm được tạo ra bởi khách không chỉ làm thu hút khách hàng mà chúng còn làm tăng sự hiện diện của các thương hiệu và sản phẩm thông qua các mạng xã hội và phương tiện truyền thông. Người tiêu dùng tham gia vào những dự án cũng giúp cho quảng bá các thương hiệu và sản phẩm cuối cùng thông qua các kênh tiếp thị và các mạng xã hội của riêng họ.
Những câu truyện đi cùng sản phẩm: Trong thời đại công nghệ thông tin người tiêu dùng tuổi ngày càng mong muốn có càng nhiều thông tin càng tốt về sản phẩm và trải nghiệm của họ. Người tiêu dùng muốn biết ai là người làm ra sản phẩm đồ ăn của họ, nó có xuất xứ từ đâu và cách thức sản phẩm đó đến được các cửa hàng noưi họ sinh sống. Trong các ngành công nghiệp văn hóa thì mong muốn này thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Sự hấp dẫn của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa thường là ở sự độc đáo của sản phẩm hoặc các câu chuyện của các nghệ sĩ làm ra nó. Tuy nhiên, khi các nhà sản xuất và hàng hóa bị tách ra tại các thị trường xuất khẩu, những câu chuyện này trở nên rất khó nói. Để lấp đầy lỗ hổng này, các nhà sản xuất đã bắt đầu lồng các câu chuyện của họ vào những sản phẩm của họ.
Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nhà sản xuất với người tiêu dùng. Thông qua việc sử dụng Nhận dạng tần số sóng vô tuyến, mã vạch hoặc mã Mã phản hồi nhanh, nhà sản xuất có thể giúp người tiêu dùng biết về tiểu sử của những sản phẩm của mình. Ví dụ, Aceites Borges Olive Oil gắn cho mỗi chai dầu ô liu một số lô mà nhờ đó người tiêu dùng có thể sử dụng để tìm kiếm thông tin về nguồn gốc sản xuất của ô liu, hạn sử dụng, nhà sản xuất, nơi sản xuất, mùi vị. Kỹ thuật này rất lý tưởng cho các ngành công nghiệp văn hóa mang những câu chuyện hấp dẫn về truyền thống, các nhà sản xuất, địa điểm và quy trình sản xuất của sản phẩm. Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi các sản phẩm đáng tin cây hơn, nổi tiếng hơn và độc đáo hơn trước đây. Việc cho phép người tiêu dùng có thể biết được toàn bộ thông tin về một sản phẩm văn hóa sẽ giúp tăng cường sự hấp dẫn của sản phẩm trên thị trường.
Hơn nữa, các nhà sản xuất và người bán các sản phẩm văn hóa có thể tạo ra Nhận dạng tần số sóng vô tuyến, mã vạch và mã Mã phản hồi nhanh riêng biệt, khi khách hàng truy cập (thường là thông qua các thiết bị di động) vào những mã này sẽ dẫn tới một trang web tương tác về các sản phẩm và nhà sản xuất. Các mã này có thể được truyền đi cùng các tài liệu tiếp thị du lịch, đặt trong các nhà hàng du lịch, khách sạn, các trang web, vv hoặc đưa vào áp phích để nâng cao nhận thức của người dân về các sản phẩm và doanh nghiệp văn hóa.
Đặt báo dài hạn: Dịch vụ đặt báo dài hạn và dịch vụ giao hàng tận nhà từ lâu đã là những chiến lược tiếp thị. Gần đây việc kết hợp 2 dịch vụ này đã trở thành một xu hướng. Ví dụ, Canada Papirmasse giao báo hàng tháng về ấn phẩm nghệ thuật cho những khách đặt mua trong khi Alula, có trụ sở tại Mỹ, đưa ra bốn ấn phẩn hàng dệt mỗi năm. Một công ty có trụ sở tại Mỹ có tên Turntable Kitchen đã đưa ra một cái nhìn độc đáo về thị trường dựa vào các ấn phẩm báo chí bằng việc kết hợp thực phẩm và âm nhạc. Mỗi tháng, người tiêu dùng đều nhận được một công thức nấu ăn với nguyên liệu được đóng gói và một cặp đĩa nhạc trên một ổ đĩa flash. Chiến thuật này cho phép tiếp thị chéo và thu hút sự chú ý của nhiều hơn một người tiêu dùng. Sự kết hợp của các sản phẩm trong ngành công nghiệp văn hóa là rất lớn. Nhiều tạp chí về âm nhạc và nghệ thuật có thể được lựa chọn và gửi đến các chủ thuê bao, giúp họ có nhiều hơn là chỉ một thể loại văn hóa của Thái Bình Dương. Chiến lược tiếp thị này cho phép các nghệ sĩ và nhạc sĩ được nhiều người biết đến hơn tại các thị trường mới trong khi vẫn duy trì được nguồn thu nhập ổn định thông qua các sản phẩm nhỏ hơn và ít tốn kém hơn.
Công nghệ: Mặc dù công nghệ đóng vai trò quan trọng trong nhiều chiến lược tiếp thị sáng tạo như đã đề cập ở trên nhưng bên cạnh đó nó vẫn có tác động tiêu cực đến các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là các lĩnh vực âm nhạc. Một trong những thách thức lớn nhất mà các nhạc sĩ gặp phải là nạn chia sẻ nhạc bất hợp pháp. Để chống lại vấn nạn này, Madonna quyết định Phân phối miễn phí album mới nhất của cô ấy lên mạng. Thay vì tập trung vào doanh thu từ việc bán album thì cô chuyển hợp đồng của mình từ một hãng âm nhạc sang một công ty sản xuất các sự kiện. Bằng việc Phân phối miễn phí sản phẩm âm nhạc của mình, các nhạc sĩ có thể có được một thị trường lớn hơn thay vì kiếm tiền từ các buổi biểu diễn trực tiếp.
Chiến thuật này cũng có thể được sử dụng trong các lĩnh vực khác. Trang web Kuvva.com tìm kiếm được rất nhiều Twitter và nền máy tính để bàn máy tính từ các nhà thiết kế đồ họa và các nghệ sĩ. Người dùng có thể đăng nhập vào và máy tính hoặc tài khoản Twitter của họ có thể được Kuvva thiết kế theo một phong cách nào đó. Trang web đã được chia sẻ với 1,6 triệu người sử dụng Twitter và quy mô đã tăng gấp bốn lần kể từ khi được giới thiệu. Các nghệ sĩ tham gia có thể giao lưu với khán giả trên toàn cầu. Điều này có thể làm tăng doanh số bán hàng trong tương lai.
Tài trợ từ công chúng: Quá trình phát triển và tiếp thị các sản phẩm văn hóa thường là một quá trình khá tốn kém và lâu dài. Để giúp bù đắp các chi phí phát triển và tiếp thị sản phẩm, những nhà sản xuất sáng tạo đang ngày càng hướng tới nguồn trợ giúp từ công chúng. Internet và nhiều kênh hữu dụng như Microfundo.com và Indiegogo.com đã giúp các doanh nghiệp, cá nhân tiếp cận được với các nhà đầu tư cá nhân một cách hiệu quả. Những cá nhân có thể đầu tư vào các doanh nhân mới thông qua các kênh trực tuyến và chia sẻ lợi nhuận của dự án.
Đôi khi các doanh nhân không cần tới sự giúp đỡ của các nhà đầu tư của họ, giúp họ tương tác hơn với doanh nghiệp. Kickstarter.com là một trong những trang web hỗ trợ từ công chúng lớn nhất mà tập trung vào các dự án sáng tạo.
Một trong những dự án của họ là Rabbit Island, một nghệ sĩ sống tại Lake Superior, Mỹ. Những người sáng lập dự án cần sự hỗ trợ để tạo ra cơ sở hạ tầng cơ bản trên quần đảo, mua một chiếc thuyền và chi trả chi phí hoạt động. Với mục tiêu chỉ 12,500 USD, họ đã tăng lên 14.840 USD với 189 người ủng hộ. Mức đóng góp dao động ở mức tối thiểu là 10 USD tới 6000 USD với nhiều phần thưởng khác nhau tùy mỗi mức đóng góp.
Thái Bình Dương: Chiến lược phát triển và quảng bá ngành công nghiệp văn hoá - ảnh 4
Underwater heritage source in the Pacific Ocean ( Source: internet)

V. Phát triển và tiếp thị các ngành công nghiệp văn hóa Thái Bình Dương
1. Tiếp thị và phát triển ngành thủ công mỹ nghệ
Mục tiêu
Mục tiêu dài hạn của chiến lược này là phát triển ngành nghề thủ công ở khu vực Thái Bình Dương tiếp cận tốt hơn vào thị trường trong nước, khu vực và nước ngoài và bước vào các thị trường xuất khẩu mới một cách thành công thông qua việc tăng công suất thiết kế nội địa, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao kỹ năng kinh doanh và các hoạt động tiếp thị đúng đắn.
Mô tả sản phẩm
Các sản phẩm thủ công đóng một vai trò lớn trong truyền thống và văn hóa của người dân trong khu vực Thái Bình Dương. Dù có được sử dụng trong nghi lễ phong tục, cuộc sống hàng ngày hoặc để kỷ niệm một dịp đặc biệt hay không thì các sản phẩm thủ công vẫn là một phần của nền văn hóa Thái Bình Dương trong hàng ngàn năm qua. Những mặt hàng và phong tục tập quán này là một phần của bản sắc của nhà sản xuất và có giá trị quan trọng trong nền văn hóa. Tuy nhiên, qúa trình hiện đại hóa ngày càng nhiều ở một số khu vực và giá trị hàng thủ công giảm đi đang đe dọa sự sống còn của các kỹ năng cổ xưa. Quá trình thương mại hóa đạo đức của các sản phẩm thủ công tới một cơ sở thị trường rộng lớn hơn sẽ giúp bảo vệ các kỹ năng văn hóa quan trọng cho các thế hệ tương lai.
Mặc dù có nhiều cơ sở sản xuất lớn và nhiều nguyên liệu có sẵn nhưng những sản phẩm thủ công ở Thái Bình Dương nói chung còn lặp đi lặp lại và thiếu sự đổi mới. Một phần do tầm quan trọng của các truyền thống văn hóa nên các nhà sản xuất thường không sẵn sàng chấp nhận rủi ro vào việc tạo ra các sản phẩm mới phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Tuy nhiên trong một số trường hợp, vẫn có nhà sản xuất sẽ chấp nhận rủi ro để tạo ra một sản phẩm mới. Nếu thành công, các nhà sản xuất khác sẽ nhanh chóng sao chép lại và không lâu sau thì sản phẩm mới đó sẽ tràn ngập thị trường và chẳng còn là hàng độc nữa. Ngoài ra, các nhà sản xuất cần phải nâng cao chất lượng, năng lực sản xuất và tính thống nhất để đáp ứng được các đơn đặt hàng bán buôn.
Các thị trường
Thị trường hiện tại
Thị trường khách du lịch: Một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất các sản phẩm thủ công ở Thái Bình Dương là thị trường khách du lịch. Sản phẩm được bán chủ yếu thông qua các cửa hàng quà tặng, chợ và đường phố và các nghệ nhân thường dựa vào thị trường khách du lịch.
Thị trường trong nước: Ở một số quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương vẫn có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm thủ công để sử dụng trong các sự kiện thuộc về văn hóa và các nghi lễ truyền thống. Người tiêu dùng ở thị trường này ít đòi hỏi về chất lượng nhưng thích thiết kế và họa tiết truyền thống.
Thị trường hải ngoại: Những mối liên kết không chính thức với các thị trường hải ngoại cũng mang lại doanh thu quan trọng cho các nhà sản xuất. Người tiêu dùng ở thị trường hải ngoại không chỉ mua các sản phẩm thủ công để sử dụng trong các sự kiện văn hóa cũng như các nghi lễ truyền thống, mà họ còn mua để làm quà tặng. Người mua thường mua số lượng lớn các sản phẩm để họ sử dụng và bán lại cho những người xa quê khác khi họ trở về quê hương của họ.
Thị trường các lễ hội: Hiện nay, thị trường các lễ hội là nguồn xuất khẩu chuẩn duy nhất. Để phát triển các thị trường này nhằm giúp các nền kinh tế quốc gia có thể thu lợi từ doanh số bán hàng thì các sản xuất phải tạo ra sản phẩm tốt hơn và chính phủ phải đánh giá tính bền vững về mặt tài chính của các sản phẩm trong các lễ hội.
Thị trường thu hút: Vào khoảng những năm 1980, ở một số quốc gia, đặt biệt là Pa-pua Niu Ghi-nê , đã có một thị trường thu hút mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, doanh thu của thị trường này đã giảm đáng kể. Với sự lựa chọn và tiếp thị sản phẩm phù hợp thì thị trường này vẫn có cơ hội được hồi sinh.
Thị trường tiềm năng
Thị trường quà tặng và du lịch MICE: Hiện nay những thị trường này vẫn chưa chưa được khai thác, nhưng các nhà sản xuất có tiềm năng liên kết với các công ty quà tặng đặc biệt hàng năm cũng như phân khúc thị trường du lịch MICE để cung cấp ra thị trường các sản phẩm quà tặng, túi hàng hóa, vv cho các cuộc họp và các sự kiện. Bộ Du lịch sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc kết nối thị trường này, nhưng các nhà sản xuất cần phải được chuẩn bị với một loạt các sản phẩm phù hợp và sẵn sàng để thực hiện các đơn hàng.
Thị trường xuất khẩu trong khu vực: Một số nhà sản xuất đã tiến những bước tiến đầu tiên vào thị trường xuất khẩu trong khu vực thông qua dự án PT&I's Marketi Ples. Với nguồn hỗ trợ thích hợp, những thị trường trong khu vực, đặc biệt là Úc và New Zealand, có thể mang lại cơ hội rất lớn cho các nhà sản xuất Thái Bình Dương. Lĩnh vực này cần phải cải thiện thiết kế sản phẩm, phát triển các hình thức bán buôn / xuất khẩu và từ từ xây dựng các mối quan hệ với người bán buôn / nhà nhập khẩu và các cửa hàng bán lẻ tại các thị trường xuất khẩu.
Thị trường xuất khẩu Mỹ: Doanh số bán hàng của thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ và thị trường xuất khẩu Bắc Mỹ còn rất hạn chế. Thị trường hấp dẫn này có tiềm năng lớn, nhưng khu vực này cần phải giải quyết nhiều lỗ hổng trong thị trường của mình trước khi theo đuổi thị trường Bắc Mỹ.
Thị trường nghệ thuật dân gian Santa Fe: Thị trường nghệ thuật dân gian Santa Fe là chương trình quảng bá văn hóa và nghệ thuật hàng đầu cho các sản phẩm văn hóa cao cấp tại Hoa Kỳ. Thị trường nằm ở bang phía tây của New Mexico, nhưng thu hút người mua từ khắp nơi trên thế giới. Nó cũng hoạt động như một phòng triển lãm dành riêng cho các nghệ sĩ có tài năng. Chỉ các nghệ sĩ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương nổi tiếng trong lịch sử nghệ thuật của thị trường nghệ thuật dân gian mới được thị thường Indonesia và Malaysia đón nhận. Cơ hội để thể hiện tài năng của các nghệ sĩ trong khu vực Thái Bình Dương thông qua các buổi trưng bày ấy sẽ quảng bá nghệ thuật thị giác của Thái Bình Dương ở cả thị trường châu Âu và  thị trường Mỹ.
Thị Trường xuất khẩu Liên minh Châu Âu: Nếu các nhà sản xuất có thể thâm nhập vào thị trường trong nước, thị trường khách du lịch, thị trường khu vực và thị trường xuất khẩu của Mỹ thì họ hoàn toàn có thể xem xét việc tiếp cận vào thị trường Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, vấn đề về khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển cao và tính chất cạnh tranh cao ở thị trường này lại là yếu tố cản trở các nhà sản xuất ở khu vực Thái Bình Dương. Các nhà sản xuất cần coi việc bước chân vào thị trường này là một mục tiêu rất lâu dài và chỉ có thể thành công một khi họ đã tiếp cận đầy đủ vào các thị trường khác.
Chiến thuật phát triển
Các chiến thuật phát triển cho các ngành nghề thủ công ở khu vực Thái Bình Dương nên tập trung vào năm nhóm chính. Đầu tiên, ngành thủ công ở mỗi quốc gia cần phải cải thiện tổ chức và xác định các bên liên quan, những người sẽ dẫn dắt sự phát triển của ngành này. Sau đó, thông qua một chương trình phát triển toàn diện và lâu dài, ngành cần nâng cao kỹ năng kinh doanh, phát triển sản phẩm và tiếp thị và quảng bá của mình. Cuối cùng, cần phát triển các kỹ năng thiết kế trong nước để các nhà sản xuất có một nguồn mẫu mã ổn định.
Phát triển thị trường
Thị trường khách du lịch: Các tổ chức phát triển hàng đầu đầu tiên phải tập trung vào phát triển thị trường khách du lịch bởi vì thị trường này dễ tiếp cận hơn và nhu cầu đòi hỏi không cao bằng thị trường nước ngoài. Đồng thời, nó còn cho phép các nhà sản xuất dễ dàng tiếp cận vào nhiều thị trường khó tính và thị trường thử nghiệm một số sản phẩm. Các chiến lược phát triển chính bao gồm:
• Phát triển sản phẩm đối với thị trường khách du lịch;
• Đào tạo cửa hàng bán lẻ về quản lý, đào tạo bán hàng, trưng bày sản phẩm;
• Chiến dịch phát triển thương hiệu để cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu;
• Phát triển các dịch vụ vận chuyển hợp nhất;
• Phát triển thị trường du lịch bằng tàu du lịch bao gồm phát triển sản phẩm, giá cả (AUD), cửa hàng bán lẻ, đào tạo bán hàng và tiềm năng tiêu thụ của sản phẩm sang nước ngoài;
• Phát triển các sản phẩm cụ thể dành cho cô dâu và khách du lịch hưởng tuần trăng mật và tiếp thị các sản phẩm này thông qua các mối quan hệ hiện có với các khách sạn, khu nghỉ dưỡng và các nhà lên kế hoạch đám cưới / sự kiện;
• Hợp tác với các công ty lữ hành, khách sạn / khu nghỉ dưỡng, hướng dẫn du lịch và các trang web du lịch trực tuyến để nâng cao kiến ​​thức của các cửa hàng bán lẻ về nghề thủ công, lễ hội và sự kiện.
2. Tiếp thị và phát triển ngành âm nhạc
Mục tiêu
Mục tiêu của chiến lược phát triển này là để bảo vệ ngành công nghiệp âm nhạc của Thái Bình Dương bằng cách nắm bắt doanh thu thật sự và thu nhập thông qua tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ và thành lập các cơ quan quyên góp. Tập trung thứ hai là hướng tới việc mở rộng thị trường sang các thị trường xuất khẩu của khu vực.
Mô tả sản phẩm
Sự đa dạng của truyền thống, các nền văn hóa và con người ở Thái Bình Dương tạo ra một cơ sở phong phú tạo cảm hứng cho các nhạc sĩ. Với sự phổ biến ngày càng tăng của âm nhạc phương Tây trong khu vực, các nhạc sĩ có thể khám phá những thể loại này để tạo ra những âm thanh độc đáo của riêng mình. Nói chung, các thể loại âm nhạc chính được tìm thấy ở Thái Bình Dương bao gồm: truyền thống, kết hợp, Reggae, Hip-Hop / Rap và Rock. Tuy nhiên, ngoại trừ một số ít quốc gia (như Vanuatu, Pa-pua Niu Ghi-nê , New Caledonia) thì phần lớn âm nhạc hướng tới  thị trường trong nước và hải ngoại.
Ngoại trừ một vài studio thu âm lớn hơn (như CHM ở Pa-pua Niu Ghi-nê  và Mango Productions tại New Caledonia), còn lại phần lớn là thiếu các studio thu âm chuyên nghiệp. Điều này đã dẫn đến chất lượng âm thanh kém và kỹ thuật sản xuất album trong studio tại nhà hoặc tại studio không có nhân viên được đào tạo đúng cách. Trong các ngành công nghiệp âm nhạc phát triển, các studio thu âm và các nhà sản xuất cũng làm việc để phát triển sản phẩm với các nhạc sĩ nhằm tạo ra các sản phẩm âm nhạc được thị trường ưa chuộng.
Nhu cầu ngành
Nhu cầu lớn nhất và cấp bách nhất trong lĩnh vực âm nhạc ở Thái Bình Dương là sự phát triển và thực thi luật pháp mạnh để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Một trong những lý do khiến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề lớn ở Thái Bình Dương là vì ở đây thiếu các tổ chức trong ngành. Ở hầu hết các quốc gia không có cơ quan quốc gia đại diện cho các nhạc sĩ và hãng thu âm và do đó các bên liên quan tới lĩnh vực âm nhạc không có cách tiếp cận chính thức tới các cơ quan chính phủ để nói lên mối quan tâm của họ về những vấn đề quan trọng này.
Phát triển & Sáng tạo: Mặc dù ở Thái Bình Dương có rất nhiều nhạc sĩ giỏi nhưng họ lại có rất ít cơ hội được đào tạo chính thức. Điều này dẫn đến thiếu kiến ​​thức âm nhạc chuyên sâu mà có thể hạn chế các giai đoạn sáng tạo của ngành. Nếu không có các chương trình đào tạo chính quy và nghiên cứu trong nước về lĩnh vực này thì các nhạc sĩ sẽ không được tiếp xúc với nhiều thể loại âm nhạc khác nhau mà có thể ảnh hưởng và làm phong phú thêm phong cách âm nhạc của họ.
Sự ra đời của internet đối với khu vực đã giúp đỡ phần nào. Nhạc sĩ bây giờ có quyền truy cập vào một loạt các thể loại âm nhạc ngay cả khi họ chưa có các kỹ năng để tạo ra những sản phẩm như vậy. Tuy nhiên, số lượng hạn chế của các đài phát thanh địa phương và sự quan tâm nói chung của người dân tới các thể loại nhạc chủ đạo vẫn còn hạn chế ngành âm nhạc bước tới nền âm nhạc mới.
Cuối cùng, các nhạc sĩ đôi khi bị hạn chế trong quá trình sáng tạo của họ do truy cập hạn chế các nhạc cụ, thiết bị ghi âm về nhà và không gian diễn tập. Nhạc sĩ thường không thể đủ kinh phí để chi cho các nhạc cụ chất lượng cao do thuế nhập khẩu cao và một số quốc gia không thể tìm thấy một nơi thuận tiện và an toàn để luyện tập và phát triển khả năng âm nhạc của họ.
Sản xuất: Như đã nói ở trước, các studio thu âm và hãng sản xuất chuyên nghiệp thường xuyên thiếu. Một vài studio chất lượng cao vẫn còn tồn tại đang bị suy giảm lợi nhuận và lường trước được có thể bị đóng cửa trong vòng một vài năm nếu luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được giải quyết. Studio lớn nhất ở Vanuatu, thuộc sở hữu của Chủ tịch Hiệp hội Liên đoàn Âm nhạc Vanuatu, ông Joe Tjiobang Bong, và một số studiok tại Fiji đã đóng cửa do vi phạm bản quyền.
Ngoài các studio chuyên nghiệp thì có hàng trăm studio tại nhà được trang bị  một loạt các thiết bị thu âm và trộn âm cơ bản. Với sự cải tiến của công nghệ kỹ thuật số và khả năng tiếp cận công nghệ này, các “kỹ sư âm thanh” tại nhà có nhiều không gian để thử nghiệm với âm nhạc của họ. Tuy nhiên, phần lớn lại không phải là những kỹ sư âm thanh được đào tạo và không thể sản xuất các album chất lượng cao, có thể cạnh tranh trong thị trường quốc tế.
Các thị trường hiện tại
Thị trường trong nước: Thị trường âm nhạc nội địa của Thái Bình Dương rất rộng lớn và ngày càng phát triển. Tuy nhiên, vấn nạn vi phạm bản quyền chính thức và không chính thức đã làm xói mòn cơ sở thị trường này. Trong thị trường nội địa có những phân khúc thị trường thường dựa trên tuổi tác của khán thính giả. Âm nhạc truyền thống hướng đến nhóm người cao tuổi trong khi âm nhạc đương đại hướng tới thế hệ trẻ. Ở một số quốc gia như Fiji, yếu tố dân tộc đóng một vai trò quan trọng trong thị trường âm nhạc do sự pha trộn của Pô-li-nê-di, Melanesians và Indo-Fiji ở quốc gia này. Mỗi cộng đồng âm nhạc có xu hướng nghe nhạc của nền văn hóa nước mình, trong đó thế hệ trẻ chiếm phần đông trong mỗi loại.
Thị trường hải ngoại: Hầu hết các phòng thu âm chính thức đều đang khai thác vào các thị trường hải ngoại thông qua các chuyến đi bán hàng chính thức hoặc các mối quan hệ chính thức với các nhà phân phối ở các quốc gia có thị trường mục tiêu. Khách du lịch hải ngoại cũng mua các sản phẩm âm nhạc khi trở về quê hương của họ. Tuy nhiên, các hoạt động tiếp thị chính thức hơn có thể làm tăng doanh số bán hàng ở thị trường này.
Các thị trường tiềm năng
Thị trường trong nước: Để lấy lại quyền kiểm soát thị trường trong nước thì chính phủ các nước phải đưa vào luật bảo về quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ với các hình phạt nghiêm trọng và dành nguồn lực thích hợp để thực thi các luật này. Ngoài ra, nạn tham nhũng (đặc biệt là hối lộ) phải được phát hiện để những người phạm tội nhiều lần phải bị phạt và / hoặc bắt giữ. Nếu luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có thể được giải quyết thành công thì ngành công nghiệp âm nhạc của Thái Bình Dương sẽ lấy lại được nền tảng thị trường quan trọng nhất của họ.
Thị trường nội địa cũng có nhiều tiềm năng để tăng doanh số bán hàng từ các buổi biểu diễn trực tiếp. Bất chấp chi phí cao của các chuyến lưu diễn, ở cả cấp độ quốc gia và khu vực, nhưng các buổi biểu diễn trực tiếp là tương lai của ngành công nghiệp âm nhạc. Tuy nhiên, để tạo ra các chuyến lưu diễn ăn khách cao tại Thái Bình Dương, cần phải có vốn đầu tư vào những điểm biểu diễn thích hợp và quỹ hoặc đầu tư cho chi phí lưu diễn.
Thị trường hải ngoại: Mặc dù các nhạc sĩ hiện hiện đang tiếp cận nhiều thị trường hải ngoại nhưng họ vẫn chưa khai thác vào tiềm năng của các thị trường này. Các chuyến lưu diễn chính thức tới khu vực của cộng đồng hải ngoại và các mối quan hệ gần gũi hơn với các cửa hàng bán lẻ có thể làm tăng doanh số, nhưng các phòng thu âm sẽ cần vốn để đầu tư vào sự phát triển của thị trường này.
Các liên hoan: Hiện nay, các nhạc sĩ ngày càng tham gia vào nhiều liên hoan ở Thái Bình Dương bao gồm các liên hoan nghệ thuật Thái Bình Dương, liên hoan nghệ thuật Melanesian và nhiều liên hoan trong nước khác. Thế nhưng, có ít nghệ sĩ có thể thu lợi từ những liên hoan như thế, và sự tham gia của họ thường chỉ được trợ cấp bởi chính phủ mỗi quốc gia hay mỗi liên hoan cụ thể. Ngoài ra, hầu hết các liên hoan trong nước và trong khu vực không tạo cơ hội cho các nhạc sĩ tiếp xúc với những thị trường lớn hơn. Các nhà tổ chức lễ hội hoặc các hãng thu âm cần phải tìm cách để sử dụng các buổi biểu diễn âm nhạc tại các liên hoan như là một cách để giới thiệu và quảng báo các nhạc sĩ cho các cơ quan về âm nhạc và hãng thu âm quốc tế. Cuối cùng, chính phủ các nước cần phải hỗ trợ các nhạc sĩ, những người muốn tham gia vào các liên hoan theo định hướng thương mại hóa hơn tại các thị trường xuất khẩu.
Thị trường khách du lịch: Hiện nay, nhiều nhạc sĩ không khai thác vào các thị trường khách du lịch chủ đạo. Khách du lịch có thể thưởng thức âm nhạc thông qua cả những buổi biểu diễn trực tiếp và những sản phẩm âm nhạc thu âm. Tuy nhiên, vì nhiều người không tính đến việc việc sẽ mua một CD hay là tham dự một buổi biểu diễn trực tiếp  khi họ lên kế hoạch đi nghỉ ở Thái Bình Dương nên các nhạc sĩ cần hướng mục tiêu đến họ. Nhạc sĩ phải làm việc với các hiệp hội khu vực tư nhân và các văn phòng du lịch của chính phủ để sản phẩm của họ có mặt trong các khu vực có thể dễ dàng tiếp cận với khách du lịch như khách sạn và nhà hàng. Ngoài ra, các liên hoan trong nước và các chương trình âm nhạc nên được quảng cáo thông qua các khách sạn và các công ty lữ hành, nơi du khách có thể tìm hiểu về chúng.
Âm nhạc truyền thống: Âm nhạc truyền thống là một thể loại đang phát triển bao gồm cả âm nhạc truyền thống và âm nhạc kết hợp từ ​​khắp nơi trên thế giới. Mặc dù quy mô của thể loại âm nhạc truyền thống chưa lớn nhưng tốc độ tăng trưởng của thể loại âm nhạc này trong những năm gần đây cho thấy nhiều tiềm năng đối với các nhạc sĩ Thái Bình Dương. Các kênh phân phối âm nhạc truyền thống có thể thay đổi chút ít và tập trung hơn vào các buổi biểu diễn và liên hoan trực tiếp, nơi thính giả có thể khảo sát các sản phẩm âm nhạc mới trước khi mua.
Thị trường bán hàng trực tuyến: Mặc dù một số ít các nhạc sĩ và hãng thu âm đã bắt đầu bán các sản phẩm âm nhạc thông qua kênh iTunes và một số kênh bán hàng trực tuyến khác nhưng họ vẫn còn rất nhiều cơ hội tăng trưởng. Có một số kênh bán hàng trực tuyến mà các nhạc sĩ ở Thái Bình Dương có thể tìm kiếm. Công ty Spotify.com gần đây đã giới thiệu các hoạt động của hãng tại Mỹ và đã có một thị trường rộng lớn tại EU. Công ty eMusic.com, một công ty có trụ sở ở Mỹ, đã trở nên phổ biến trong những năm qua vì có dịch vụ tải nhạc rẻ hơn. Mặc dù chưa hoàn chỉnh nhưng Wikipedia có một danh sách các cửa hàng âm nhạc trực tuyến có hạn chế về địa lý và thể loại âm nhạc.
Phát triển cơ sở hạ tầng
• Để thu tiền bản quyền từ các đài phát thanh trong nước, quốc tế và khu vực, vận động Chính phủ ban hành các chính sách có lợi và các chương trình đầu tư và mạng lưới trong ngành âm nhạc thì các khu vực âm nhạc quốc gia cần phải tự tổ chức. Hiện nay, Fiji là quốc gia duy nhất trong các quốc gia ở Thái Bình Dương có cơ quan thu quốc gia hoạt động mang tên Hiệp hội các quyền biểu diễn của Fiji. Mỗi quốc gia cần thiết lập một hiệp hội về âm nhạc để hoạt động giống như một cơ quan thu tiền bản quyền, cũng như giúp ngành âm nhạc phát triển bằng cách vận động chính phủ tài trợ.
• Một khi các tổ chức quốc gia này được hình thành thì cần phát triển một hiệp hội ô vùng để giúp phối hợp và kết nối trên toàn khu vực. Tổ chức khu vực có thể giúp thiết lập các thỏa thuận hợp tác sản xuất, hỗ trợ luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như phát triển các chiến lược tiếp thị sáng tạo để tận dụng các sản phẩm và các quỹ của mỗi quốc gia vì lợi ích của toàn thể.
• Các tổ chức khu vực và quốc gia cũng nên kiểm tra xem các thỏa thuận chính sách 4 hiện tại và tiềm năng trong các chính sách có thể mang lại lợi ích cho họ như thế nào trong các chuyến lưu diễn quốc tế.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Sau khi được thành lập, các hiệp hội âm nhạc quốc gia sẽ cần phải tập trung đầu tiên vào việc tăng cường tính thực thi luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong các quốc gia họ. Một số chiến lược để thực hiện được điều này bao gồm:
• Các hiệp hội quốc gia nên vận động chính phủ của mình tạo ra những luật có mức răn đe mạnh mẽ với những hình phạt khắc nghiệt đối với vấn đề vi phạm bản quyền. Họ nên học hỏi các mô hình từ các quốc gia trong khu vực, chẳng hạn như Vanuatu. Pháp luật của Vanuatu có cả ưu và nhược điểm mà các quốc gia đang làm việc về vấn đề luật bản quyền riêng của họ nên xem xét. Luật này cần phải làm rõ cách thức thực thi và người chịu trách nhiệm điều tra nguồn hỗ trợ.
• Các hiệp hội quốc gia nên hình thành lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để phổ biến luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong một quốc gia và tự thực thi luật pháp. Lực lượng đặc nhiệm cũng có thể hợp tác với Ban hải quan hoặc kiểm duyệt để đưa ra các biện pháp bảo vệ ngành công nghiệp.
• Chính phủ và lực lượng cảnh sát cũng cần được đào tạo về cách thực thi và cưỡng chế luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Một gợi ý được đưa ra là kí kết với Hiệp hội về quyền biểu diễn Úc (APRA) hoặc Liên đoàn công nghiệp nghệ thuật quốc tế (IFPI) để huấn luyện chính phủ các quốc gia về việc tạo ra và cưỡng chế luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
• Các hiệp hội quốc gia cũng nên xem xét phát triển một nhãn hàng và chiến dịch quảng cáo để nâng cao nhận thức về tác động của hành vi xâm phạm luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Các nhãn hàng có thể được gắn kèm với các sản phẩm đích thực để giúp người tiêu dùng phân biệt giữa các sản phẩm âm nhạc hợp pháp và bất hợp pháp.
Tiếp thị và quảng bá
Trọng tâm trước mắt của ngành âm nhạc nên tập trung vào việc lấy lại quyền kiểm soát thị trường trong nước.
Các hoạt động tiếp thị trung và dài hạn có thể bao gồm:
- Nhắm vào các thị trường khách du lịch thông qua phát triển sản phẩm mang tính sáng tạo và quan hệ đối tác với các khách sạn, các hiệp hội du lịch khu vực tư nhân và các văn phòng du lịch của chính phủ ..
- Các nhạc sĩ có thể hợp tác với các khách sạn để các sản phẩm âm nhạc của họ được bày bán ở sảnh khách sạn, nhà hàng hoặc các phòng có tờ rơi được thiết kế đẹp mắt có thông tin về sản phẩm âm nhạc và trang web mua hàng. Khi khách sạn gửi các email theo dõi, họ có thể đưa thêm một liên kết mà khách du lịch có thể mua sản phẩm âm nhạc trực tuyến. Khách sạn cũng có thể cung cấp đĩa CD để bán tại cửa hàng quà tặng của họ.
- Các nhạc sĩ nên quảng cáo các chương trình trực tiếp thông qua các khách sạn và công ty lữ hành vì nhiều khách du lịch sẽ không tìm hiểu về các chương trình trực tiếp thông qua các phương tiện truyền thông địa phương.
- Các nhạc sĩ có thể làm việc với các văn phòng du lịch của chính phủ để phát triển các sản phẩm nhắm vào thị trường du lịch bằng tàu du lịch và các thị trường thích hợp khác.
- Để tiếp cận vào các thị trường xuất khẩu thì các nhạc sĩ và các hãng thu âm sẽ cần vốn đầu tư từ chính phủ để trả cho các chi phí trả trước và chi phí quảng cáo. Chính phủ nên tạo ra các chương trình đầu tư phù hợp với nhu cầu thị trường xuất khẩu, có hướng dẫn chặt chẽ cho mỗi lựa chọn của các nghệ sĩ. Tiền đầu tư có thể được sử dụng để giúp các công ty nữ hành hoặc chi phí quảng cáo.
- Với sự đầu tư và trợ giúp của chính phủ, các hiệp hội âm nhạc quốc gia có thể tạo ra các chiến lược tiếp thị sáng tạo và những kinh nghiệm hợp tác cho các nhạc sĩ của họ nhằm giúp họ tiếp cận với thị trường quốc tế.
Hồng Nhung lược dịch (Nguồn: spc.int)
 
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác