Bắc Kạn: Cần tăng cường, chỉ đạo thực hiện các văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Sắc lệnh số 66/SL ngày 23/11/1945-văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành đã đặt nền móng cho sự bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều văn bản chỉ đạo và quản lý về di sản văn hóa.

Hồ Ba Bể - Bắc KạnHồ Ba Bể - Bắc Kạn

Pháp lệnh bảo vệ di tích, Luật Di sản các nội dung trong hợp tác quốc tế và những định hướng về bảo tồn di sản văn hóa 2020 là thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng trên lĩnh vực này.
Đảng ta luôn khẳng định chủ trương: Nhà nước cùng nhân dân gìn giữ và tôn tạo những di tích lịch sử văn hóa, coi di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc. Coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể là điều rất cần thiết.
Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, từ năm 1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 25 TTg về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật.
Luật Di sản văn hóa đã đề cập đầy đủ từ trách nhiệm của Nhà nước đến các nguyên tắc bảo vệ và phát huy.
Từ nhiều năm nay, tỉnh ta đã có nhiều cố gắng trong việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa ở địa phương. Có thể nói, hệ thống di sản văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú và đa dạng.
Theo số lượng tổng kiểm kê trong những năm gần đây, trên địa bàn toàn tỉnh có 182 di tích lịch sử, văn hóa và thắng cảnh. Là một tỉnh nằm trong khu căn cứ địa Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh ta có nhiều di tích tiêu biểu, thể hiện sinh động và khách quan những sự kiện lịch sử điển hình của thời kỳ hiện đại, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với 11 di tích cấp Quốc gia đã được công nhận và nhiều di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh cùng kho tàng văn hóa phi vật thể có giá trị khác đã góp phần giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ.
Một số di tích cấp Quốc gia tiêu biểu như: di tích Bản Ca-nơi ở và làm việc của Hồ Chủ tịch năm 1947; di tích Nà Pậu-nơi ở và làm việc của Hồ Chủ tịch năm 1941; di tích Bản Bẳng-nơi gặp mặt đoàn quân Nam tiến và Bắc tiến; di tích Nà Tu-nơi Bác đọc tặng thanh niên xung phong 4 câu thơ “không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên; “ di tích Nà Quân-nơi đặt hội trường của TW Đảng năm 1951-1952; di tích Khuổi Linh-nơi ở và làm việc của đồng chí Trường Chinh 1950; di tích đồi Khau Mạ-nơi ở và làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng năm 1950-1951; di tích Chiến thắng Phủ Thông; di tích Chiến thắng Đèo Giàng; di tích danh lam thắng cảnh hồ Ba Bể, động Nàng Tiên…đó là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Bên cạnh đó, di sản phi vật thể của tỉnh ta cũng rất phong phú và đa dạng. Những tác phẩm văn học nghệ thuật, diễn xướng dân gian; những bí quyết về nghề thủ công truyền thống; những tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống; những làn điệu then, điệu cọi trữ tình của người Tày; những điệu páo dung, coóng phây trầm bổng của người Dao; những làn điệu Si giang, nàng ới của người Nùng…đó chính là sản phẩm tinh thần được lưu truyền có giá trị.
Những năm gần đây, sự thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội, sự phát triển của công nghệ thông tin, một số di sản văn hóa của tỉnh ta đã bị mai một. Để bảo vệ được di sản văn hóa đó, các cấp ủy, chính quyền địa phương phải đặc biệt quan tâm, coi việc bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa là sự bảo tồn, gìn giữ và phát huy môi trường sống lịch sử và truyền thống của các tộc người Bắc Kạn.
Chính vậy, công việc sưu tầm, bảo vệ di sản văn hóa ở tỉnh ta cần tập trung làm tốt một số việc sau:
Thứ nhất, cần tập trung kiểm kê, đánh giá, phân loại các di tích làm cơ sở xây dựng và triển khai những dự án đầu tư nâng cấp các di sản văn hóa này bằng nhiều nguồn lực khác nhau.
Thứ hai, phải có kế hoạch từng bước bảo tồn, phát huy những di sản này một cách hữu hiệu.
Thứ ba, đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục kết hợp với việc tăng cường xử lý các hành vi vi phạm để từng bước tạo lập và duy trì kỷ cương quản lý di tích ở mọi cấp, mọi ngành và mọi người dân.
Thứ tư, đẩy mạnh quá trình xã hội hóa nhằm huy động sự tham gia của các tổ chức kinh tế, xã hội cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa, góp phần tạo ra những động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.
Thứ năm, các cấp ủy, chính quyền cần nâng cao trách nhiệm trong việc bảo tồn, gìn giữ di sản văn hóa, coi di sản văn hóa là cơ sở để xây dựng nền văn hóa mới; xây dựng con người về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội.

Theo BK

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác