Bảo tàng nông dân giữa lòng phố thị

Sau 22 năm sưu tầm các vật dụng trong sản xuất và sinh hoạt của nông dân đồng bằng Bắc bộ, ông Trần Phú Sơn (SN 1943) đã quyết định thành lập bảo tàng có một không hai ở giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Điếu cày, cối giã trầu, bình vôi.Điếu cày, cối giã trầu, bình vôi.

Dưới cái nắng hanh vàng một chiều Thu, trên khuôn viên 80m2, tầng 4, ngôi nhà số 2, ngõ 49, phố Vân Hồ 2, ông Sơn đang loay hoay lau chùi những báu vật mà mình may mắn sưu tầm được. Thấy khách, ông ngừng tay, quyệt vội vệt mồ hôi trên trán, cười hể hả: “Tớ đang thử làm nông dân”.
Hồn quê giữa phố

 “Tớ đeo đuổi cái cái đam mê của một anh nông dân” – chân đong đưa chiếc võng gai, tay phe phẩy chiếc quạt nan, ông Sơn bắt đầu cuộc trò chuyện với chúng tôi bằng cái giọng chất phác như thế. Chả thế mà mặc dù sinh ra trong một gia đình công chức, chưa một lần cưỡi trâu ra đồng, ông lại bỏ công bỏ của, ròng rã 22 năm trời, như kẻ mắc nợ với những vật dụng... bỏ đi. Những người hàng xóm hay “buôn chuyện” gọi ông là “đồ rỗi hơi”, “lão gàn”, đi mua rác về bày cho chật nhà chứ chẳng được cái tích sự gì. Vợ con ông cũng đã nhiều phen... ngán ngẩm. Kệ, ông cứ làm.

Duyên nợ với đồ đạc cũ đến với ông Sơn thật tình cờ. Năm 1985, trong một lần đi ăn cỗ cưới ở Từ Sơn (Bắc Ninh), ông vô tình trông thấy người bạn nhờ đám thanh niên khênh cái cối giã gạo, cối xay lúa mang ra bờ ao vứt cho đỡ chật nhà. Hỏi lý do, người bạn bảo, bây giờ đã có máy xay sát nên những vật dụng ấy không còn sử dụng nữa. Tiếc của, ông liền xin, mang về để khi nghỉ hưu sẽ bày chơi. Ai ngờ, đấy là bước khởi đầu của một thú chơi, đúng hơn là một cái nghiệp của người đàn ông lắm đam mê này.

Mỗi dịp về nông thôn, vào nhà ai, ông cũng nhòm ngó, thấy ai có cái gì hay là ông hỏi xin, dạm mua. Ngay cả những chuyến công cán khắp nơi, ông cũng tận dụng để đi sưu tầm nông cụ. Thế nên khi về hội nghị, hội thảo ở các tỉnh, trong khi các đồng nghiệp ăn nghỉ tại nhà hàng, khách sạn thì ông Sơn, cứ hở được chút thời gian rỗi lại tất tả thuê xe ôm bôn ba khắp các nẻo đường quê mà tầm báu vật. Cần mẫn riết, cái kho đựng đồ của ông ở quê ngoại Bắc Ninh đã không còn chỗ chứa, thế là tầng 4 của ngôi nhà ở Hà Nội lại được trưng dụng. Cày, cuốc, cối đá, áo tơi, nón lá v.v... ngự trị khắp gian phòng và khuôn viên rộng 80m2 vẫn không đủ.

Đầu năm 2005, ông Sơn mừng sự kiện nhận sổ hưu của mình bằng việc bỏ 150 triệu đồng để biến ngôi nhà mình thành bảo tàng tư nhân đầu tiên trên cả nước, trưng bày vật dụng sản xuất và sinh hoạt của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ xưa. Bảo tàng có hơn 250 hiện vật, được chia làm ba khu. “Khu vực sản xuất” có những cái cày cổ xưa, xưa nhất là cày chìa vôi; sau đó là cày chìa vôi cải tiến, có lưỡi cày bằng gang; cày cải tiến 1951 (cày 51), cày 1958 - năm nông dân bắt đầu vào hợp tác xã (cày 58). Cùng với đó là bừa, cuốc bàn, cào cỏ lúa, gầu sòng, gầu dây, liềm xén lúa, liềm v.v... Tiếp đó là các thứ đồ phục vụ cho xay lúa, giã gạo: cối, dần, sàng, lia. Tất nhiên, khu này không thể thiếu giậm, lơm úp cá, đó…

Ở đây còn có cả 2 chiếc áo tơi mưa (1 sưu tầm ở Hà Tĩnh, 1 ở làng Chuông - Hà Tây) không chỉ dùng để che mưa mà còn cả che nắng nóng và những cơn gió lạnh. “Khu vực sinh hoạt” có bộ tràng kỷ bằng tre, giường tre, võng dây đay, các loại đèn đốt bằng dầu (đèn Hoa Kỳ, đèn chai, được làm bằng chai đựng thuốc, đèn dây). Trong gian bếp có ba ông vua bếp (ba ông đầu rau), chảo đồng, chậu đồng, chạn bát bằng tre, mâm gỗ, chum tương, cối xay bột, lọ mắm cổ ngày xưa… “Khu văn hóa” là bộ đồ thờ cúng gồm đỉnh đồng, đôi hạc, chuông, mõ, mâm bồng chạm khắc tứ linh. Đặc biệt trong chiếc tủ kính cổ được bày những vật dụng tiêu biểu nhất đại diện cho văn hóa đồng bằng Bắc bộ là chú Tễu và chiếc đàn bầu. Ngoài ra còn có văn hóa ăn trầu của các cụ bà, hút thuốc lào của các cụ ông được thể hiện qua các vật dụng: trầu không, cau, vỏ, cối giã trầu, bình vôi, điếu cày, điếu bát, thuốc lào v.v...

Nếu phân chia theo vị trí thì bảo tàng có hai khu: trong nhà và ngoài hiên. “Khu trong nhà” là những vật dụng sinh hoạt như: ban thờ, đỉnh đồng, lư hương, đèn dầu, võng, chạn bát, bếp... “Khu ngoài hiên” là nơi ngự trị của cày, cuốc, dao, giỏ, đó, cối xay, cối giã gạo... Những hiện vật ấy đều là những hiện vật gốc, chúng có niên đại ít nhất 50 năm và đã phải qua quá trình sử dụng của người nông dân đồng bằng Bắc bộ, có cái giỏ, cái rổ còn nguyên những “sợi” bồ hóng khi người dân treo lên gác bếp...

Khám phá bảo tàng tư nhân, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên xen lẫn bất ngờ, bởi giữa một TP ồn ào, cuộc sống cứ hối hả diễn ra, lại có một nơi chốn bình yên đến thế. Bước vào khu trưng bày, ta như đang được sống lại ở một vùng quê yên ả với những vật dụng rất quen thuộc trong đời sống của cư dân nền văn minh lúa nước.

Nhặt nhạnh, tha lôi hiện vật...

Bảo tàng nông dân giữa lòng phố thị - ảnh 2

Ông Trần Phú Sơn.

Trong số hơn 250 hiện vật được trưng bày ở bảo tàng mini của ông Sơn, có những thứ là đồ bỏ đi, không tốn một xu để mua nhưng cũng có những hiện vật ông phải mất cả thời gian dài tìm kiếm, mua với số tiền rất cao. Ví như chiếc mâm bồng đời Hậu Lê (dùng để dâng hoa quả tiến vua), ông phải bỏ ra 6 triệu đồng cùng 3 lần ngược xuôi Hà Nội - Nam Định mới mua được.

Chuyện rước được 3 ông đầu rau (3 hòn đất đắp làm bếp đun) cũng gian nan không kém. Mất cả năm trời đi thám thính ở khắp các tỉnh miền Bắc, ông cũng không tìm ra nơi nào còn giữ được. Trăn trở mãi, ông nghĩ ra một mẹo. Cứ mỗi lần các bà, các cô mua thu mua đồng nát đi qua nhà là ông kéo vào hỏi thăm. Cả trăm người đến, ông chỉ nhận được câu trả lời khô khốc: “Ở quê cháu bây giờ người ta dùng kiềng hết rồi ông ạ”. Không nản, ông lại nhờ họ khi nào về quê thì nhớ hỏi giúp ông, ông sẽ trả công thật hậu. Sau đó, có chị đồng nát quê ở Thái Bình khệ nệ gánh 3 ông đầu rau đến tặng ông mà không lấy một xu tiền công...

22 năm đi sưu tầm đồ xưa cũ, ông Sơn rút ra kinh nghiệm: “Chịu khó về quê ăn cỗ và cứ bám các cụ già là ra hết”. Một lần, ông về ăn cỗ tại một gia đình ở cách chùa Hương 7km. Đang ngồi, ông nói chuyện mình đang tìm cái cày chìa vôi và hỏi xem ai có không. Một cụ già cao tuổi nói: “Thế ông có cái cuốc bàn chưa? Tôi có một cái nhưng đã cho anh ở ngoài bãi rồi”. Thế là ăn cơm xong, hai ông con đi ra ngoài bãi hỏi mua cái cuốc bàn của người chủ mới. Vừa mang chiếc cuốc về tới sân, một cụ già khác hỏi: “Nhà tôi có cái mâm gỗ, ông có lấy không?”. Thế là phúc trùng lai… Lần khác, trong một đám cưới ở tỉnh Bắc Giang, ông Sơn sưu tầm được cái chạn bát bằng tre. Người con dâu của cụ già có cái chạn bát hỏi ông: “Bác đi sưu tầm đồ cổ à? Nhà tôi có nhiều thứ lắm”. Thế rồi chị tất tả về tha lôi đèn dây, đèn chai, cày chìa vôi... đến tặng ông.

Quá trình sưu tầm hiện vật, có nhiều thứ, ông phải nhờ đến sự trợ giúp của “cố vấn nông dân” là ông hàng xóm Trịnh Bá Tẩm đã gần 70 tuổi, nguyên là chủ nhiệm một hợp tác xã nông nghiệp thời bao cấp.

Về với xa xưa

Hàng ngày, ngoài việc bôn tẩu nơi các làng quê để sưu tầm cổ vật, ông Trần Đức Sơn cũng rất bận rộn với việc tiếp đón nhiều đoàn khách tham quan, nhiều nhất là các đoàn học sinh và du khách nước ngoài đến tìm hiểu về những vật dụng của người dân đồng bằng Bắc bộ xưa. Các cháu học sinh khi đến thăm bảo tàng của ông, hào hứng nhất là được học xay lúa bằng chiếc cối tre.

Bảo tàng... rác của ông cũng được vinh dự tiếp đón cả đoàn của sứ quán Pháp, ngài Chủ tịch hội hữu nghị Đức - Việt đến xem (2005). Thú vị nhất là có nhiều vị khách, sau khi tìm đến để trầm trồ với những món đồ xưa cũ ấy, đã mang tặng ông nhiều vật dụng quý giá của gia đình họ. Ông Sơn rất cảm động khi trong dịp Tết Đinh Hợi vừa qua, có một cụ già trên 80 tuổi từ TPHCM ra Hà Nội ăn tết, đã thuê xe ôm chở đến tận nơi. Sau khi chiêm ngưỡng các đồ vật, cụ già rưng rưng: “Cám ơn ông! Lần đầu tiên trong đời tôi mới được biết phong tục tập quán của người nông dân vùng Bắc Bộ, được sống trong không khí và thấy những vật dụng của thời xưa cũ. Thế là tôi mãn nguyện lắm rồi!”.

Gần đây, Sở Du lịch Hà Nội đã đến và đặt vấn đề với ông để đưa “Bảo tàng các vật dụng trong sản xuất và sinh hoạt của nông dân đồng bằng Bắc bộ” vào hệ thống các điểm du lịch. Ông Sơn đã chối từ, bởi với ông, sưu tầm các vật dụng của cha ông là một thú vui, người đến xem để hiểu biết thêm về truyền thống chứ không nệ đến chuyện kinh doanh.

Ngoài bảo tàng nông dân, ông Sơn còn nổi tiếng với việc sưu tầm truyện Kiều từ những năm 1958. Năm 2005, ông đã đem 240 trong tổng số 250 quyển truyện Kiều của mình đem tặng Bảo tàng Nguyễn Du trong dịp kỷ niệm 240 năm ngày sinh của đại thi hào. Cũng trong năm này, ông mang 8 con dấu đóng vào tem từ thời chống Mỹ tặng Bưu điện Hà Nội.

Sinh ra và lớn lên ở phố thị, chưa một lần cày sâu cuốc bẫm, vậy mà lại có cả một bảo tàng về nông nghiệp, nông thôn. Cái đời nông dân của ông Trần Phú Sơn thật ngộ.

(Theo SGGP)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác