Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam: 50 xây dựng và phát triển

(Cinet) - Vào ngày 17/12, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam (BT VHCDTVN) sẽ long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập (17/12/1960-17/12/2010).

Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam: 50 xây dựng và phát triển - ảnh 1

Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam là một thiết chế văn hoá được xây dựng từ năm 1960, nằm giữa trung tâm thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, cách thủ đô Hà Nội hơn 80 km về phía Bắc.

Thời kỳ đầu, Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam với tên gọi là Bảo tàng Việt Bắc với chức năng nhiệm vụ ban đầu là nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống lịch sử văn hoá, lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc khu Việt Bắc. Năm 1976. Khu tự trị Việt Bắc giải thể, Bảo tàng Việt Bắc chuyển giao về trực thuộc Bộ Văn hoá Thông tin quản lý. Đây là giai đoạn chuyển hướng nội dung hoạt động từ Bảo tàng tổng hợp sang Bảo tàng chuyên ngành về Văn hoá dân tộc. Ngày 31/3/1990 Bộ trưởng Bộ Văn hoá đã phê duyệt đổi tên Bảo tàng Việt Bắc thành Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam. Một Bảo tàng trung ương đóng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam không chỉ là một công trình kiến trúc to, đẹp mà còn là một trung tâm văn hoá lớn với chức năng nhiệm vụ: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền và phát huy vốn di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc Việt Nam trên phạm vi cả nước. Trong những năm đổi mới, được sự quan tâm của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã đầu tư, cải tạo, xây dựng mới các phòng trưng bày khoa học, hiện đại. Công tác sưu tầm hiện vật được chú trọng khai thác, bảo quản, trưng bày có hệ thống đã được cấp trên, đồng nghiệp, đặc biệt là khách tham quan đánh giá cao. Số lượng khách tham quan trong nước và quốc tế đến với Bảo tàng ngày một đông hơn.

Hiện nay hệ thống trưng bày trong nhà của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam đã hoàn chỉnh với hệ thống 5 phòng trưng bày được xây dựng trên cơ sở nhóm ngôn ngữ kết hợp với văn hoá vùng, giới thiệu bản sắc văn hoá 54 tộc người gắn với cảnh quan môi sinh từng vùng cư trú.

Phòng số 1: Với diện tích 250m2, phòng trưng bày giới thiệu các yếu tố văn hoá chung và riêng của 4 tộc người nhóm ngôn ngữ Việt - Mường( Việt - Mường - Thổ - Chứt)

Phòng số 2: Trưng bày và giới thiệu về văn hoá 8 tộc người nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (Tày, Thái, Lào, Nùng , Lự, Bố Y, Sán Chay, Giáy)

Phòng số 3: Trưng bày và giới thiệu văn hoá các tộc người thuộc 3 nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao , Ka Đai  và Tạng Miến.

Phòng số 4: Trưng bày giới thiệu văn hoá 21 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me (Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Gié Triêng, H’rê, Kháng, Khơ Me, Khơ Mú, Mảng, Xinh Mun, Mnông, ơ Đu, Mạ, Rơ Măm, Tà ôi, Xơ Đăng, Xtiêng).

Phòng số 5: Trưng bày và giới thiệu văn hoá 8 tộc người thuộc 2 nhóm ngôn ngữ Nam Đảo (Chăm, Gia Rai, ê Đê, Raglai, Chu Ru) và ngôn ngữ Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu).

Với trên 4.500 tài liệu hiện vật gốc, phim ảnh, 335 tài liệu khoa học bổ trợ và 1.400 tài liệu chữ viết, hệ thống trưng bày của Bảo tàng đã tái hiện được cảnh quan cư trú và đời sống văn hoá tộc người, hấp dẫn công chúng tham quan. Ngoài phần trưng bày cố định, hàng năm công tác triển lãm lưu động được Bảo tàng thướng xuyên thực hiện trong suốt mấy chục năm qua. Công tác triển lãm lưu động đã triển khai tới khắp các vùng miền, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, trên địa bàn cả nước. Đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân. Ngoài ra các cán bộ Bảo tàng còn trực tiếp tham gia nhiều cuộc trao đổi học tập kinh nghiệm trong nước và ngoài nước. Tham dự nhiều cuộc hội nghị, hội thảo chuyên ngành về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Bên cạnh đó, một hệ thống trưng bày ngoài trời vừa xây dựng với không gian đặc trưng 6 vùng văn hoá càng làm tăng thêm sự hấp dẫn của bảo tàng. Trong khuôn viên ấy có đủ cả sông núi, có cảnh quan và kiến trúc khắp miền hội tụ. Những điểm nhấn không gian kiến trúc, mở ra cái nhìn bao quát về bản sắc văn hoá vùng, tạo cảm giác gần gũi, hài hoà giữa văn hoá với thiên nhiên.

Có thể nói, trong 50 năm xây dưng và phát triển, những người làm bảo tàng nơi đây đã lặn lội khắp các bản làng, buôn sóc để nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, hiện vật hết lòng vì sự nghiệp bảo tồn bản sắc dân tộc. Công lao ấy được ghi nhận bởi số lượng người đến với bảo tàng ngày một đông, ngày càng có nhiều khách nước ngoài đến với bảo tàng như một địa chỉ hấp dẫn. Công sức ấy được ghi nhận bằng Huân chương Lao động hạng Nhất mà Đảng và Nhà nước trao tặng Bảo tàng nhân dịp kỷ niệm 50 năm.

Một nửa thế kỷ đã trôi qua, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam vẫn luôn khẳng định là một địa chỉ văn hoá đặc biệt, nơi lưu giữ bản sắc văn hoá các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam.         

 

TH

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác