Bảo tồn di sản vẫn là bài toán khó

Sau 7 năm triển khai, Luật Di sản văn hóa đã bước đầu tạo nên nhiều chuyển biến cơ bản nhận thức của cộng đồng trong vấn đề phát huy và bảo tồn di sản. Những phát hiện về hành vi ứng xử thiếu văn hóa với di tích ở nhiều nơi đã được phát hiện và xử lý ngày một nhiều hơn cũng là dấu hiệu chứng tỏ người dân hiểu và đã dần biết cách để bảo vệ di sản của chính mình. Song đây cũng là thời điểm bộc lộ khá nhiều bất cập trong việc thực thi luật di sản trong cuộc sống.

Bảo tồn di sản vẫn là bài toán khó - ảnh 1

Ý thức về bảo vệ di sản đã dần định hình

Tính tới thời điểm này, cả nước đã có 5 di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 2 di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong số 4 vạn di tích trên toàn quốc đã kiểm kê, có 3.018 di tích đã được xếp hạng di tích quốc gia và 5.347 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Từ năm 2001 đến nay, đã có 1.456 di tích được đầu tư chống xuống cấp, tu bổ...

Nhiều di tích đã được tu bổ tôn tạo và đang trở thành những sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, có sức hấp dẫn khách tham quan ở trong và ngoài nước, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách nhà nước, đồng thời tạo thêm việc làm cho nhân dân địa phương như vịnh Hạ Long, quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, địa đạo Củ Chi, thắng cảnh Hương Sơn, Yên Tử, núi Bà Đen (Tây Ninh), Đền Bà chúa Xứ (An Giang)...

Bên cạnh kinh phí đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho việc tu bổ tôn tạo di tích cũng ngày một tăng lên, do đó nhiều di sản văn hóa và thiên nhiên được hồi sinh.

“Nguyên gốc” hay “nguyên trạng”?

Một trong những vấn đề đang được coi là điểm nóng hiện nay chính là việc làm “trẻ hóa” di tích, làm giảm đi giá trị văn hóa, nghệ thuật sau khi tiến hành tu bổ, tôn tạo. Nhiều di tích bị tu sửa sai quy cách do buông lỏng quản lý và do sự thiếu hiểu biết của một số lãnh đạo chính quyền địa phương, nhân dân, các vị trụ trì đền, chùa và cả đơn vị thi công trong việc muốn di tích bền vững (muốn thay mới toàn bộ cho bền chắc nên phản đối việc áp dụng các biện pháp nối vá, gắn chắp...), muốn di tích được “xứng tầm” hoặc vì chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến làm mới di tích. Việc tu bổ di tích còn dựa vào kinh nghiệm, ít dựa vào luật và các văn bản dưới luật, kết quả là di tích gốc bị biến dạng, nhất là đối với các di tích kiến trúc nghệ thuật.

Theo các nhà chuyên môn, thì một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này cũng xuất phát từ chính sự thiếu hành lang pháp lý đồng bộ trong việc tu bổ và tôn tạo di tích. Trong khi di tích một công trình đặc biệt, có nhiều nét đặc thù, không chỉ yêu cầu khảo sát kỹ lưỡng, mà ngay bước tháo dỡ, thi công công trình phải liên tục thay đổi phương án mềm dẻo phù hợp với hiện trạng... thì từ trước đến nay, các công trình này về thủ tục lại phải làm theo quy định trong Luật Xây dựng. Điều đó đồng nghĩa với việc các công trình tu bổ, tôn tạo di tích cũng sẽ được đưa ra đấu thầu như bất cứ một công trình xây dựng nào.

Một nguyên nhân khác là do đội ngũ cán bộ quản lý về tu bổ di tích, đội ngũ cán bộ tư vấn - thiết kế - giám sát, đội ngũ cán bộ kỹ thuật - công nhân lành nghề có kinh nghiệm trong lĩnh vực này hiện nay còn mỏng, năng lực không đồng đều nên đã dẫn đến chất lượng quản lý và tu bổ di tích không đáp ứng những yêu cầu, về tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhiều địa phương còn quan niệm sai lầm cho rằng, công tác tu bổ, tôn tạo di tích chỉ như các hoạt động xây dựng cơ bản đơn thuần, từ đó dẫn đến việc phân cấp cho cấp huyện thậm chí là cấp xã, làm chủ đầu tư một số công trình tu bổ di tích. Trong khi lực lượng cán bộ chuyên môn của cấp huyện, xã về lĩnh vực này rất ít kinh nghiệm, làm ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn.

Thêm vào đó, quan điểm chưa thống nhất giữa việc bảo tồn nguyên gốc hay nguyên trạng cũng gây nên nhiều khó khăn cho những người làm công tác tu bổ di tích. Vì thế nghịch cảnh đã xảy ra với một số công trình, sau khi được đầu tư một khoản tiền lớn vào công tác tu bổ, tôn tạo lại bị giảm giá trị so với nguyên gốc ban đầu.

Do đó, việc cần có một hành lang pháp lý đồng bộ, hoàn thiện về phân cấp quản lý di sản văn hóa thật cụ thể, rõ ràng và sát với yêu cầu cũng như khả năng thực tế của các cấp, các ngành. Đồng thời, phải xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành để tăng cường vai trò cũng như tính chủ động của các cấp, các ngành trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

 

Theo SGGP

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác