Bảo tồn di tích tại Thanh Hoá: Cần một cách nhìn và hành động đúng

Trong những năm qua, công tác bảo tồn, tôn vinh giá trị di tích trên địa bàn tỉnh đang nhận được sự quan tâm của các ngành, các cấp và cộng đồng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, còn những hạn chế, bất cập cần sớm khắc phục.

Bảo tồn di tích tại Thanh Hoá: Cần một cách nhìn và hành động đúng - ảnh 1

Cần nhận diện đúng giá trị của di tích

Với hệ thống quần thể di tích đậm đặc, gồm 1.535 di tích lịch sử – văn hóa gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong đó có 657 di tích được xếp hạng (146 di tích quốc gia, 511 di tích cấp tỉnh), không những có giá trị đặc trưng mà còn đa dạng về thể loại. Các di tích xếp hạng được phân theo 4 loại hình, bao gồm: kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ học và danh lam thắng cảnh, được trải đều trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố. Nhiều di tích lớn như quần thể di tích lịch sử Lam Kinh (Thọ Xuân); Thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc); đền Bà Triệu; chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Hậu Lộc); đền thờ bia ký Từ Minh, chùa Giáp Hoa (Hoằng Hóa); đền Sòng (Bỉm Sơn)... hàng năm đều thu hút hàng vạn lượt khách trong, ngoài tỉnh đến thăm và dâng hương, đã tạo đà cho nền du lịch tỉnh Thanh ngày càng phát triển.

Những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể trong tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến việc tổ chức thực hiện Luật Di sản văn hóa, tạo bước chuyển về nhận thức, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hàng loạt di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được công nhận, tu bổ, tôn tạo; nhiều cổ vật, di vật đã được bảo vệ, phát huy giá trị của di tích và huy động các nguồn kinh phí để trùng tu, tôn tạo di tích. Ngoài kinh phí của Chương trình hỗ trợ các mục tiêu quốc gia cấp bình quân 10 tỷ đồng/năm để phục dựng, trùng tu một số di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của tỉnh, từ năm 2007 đến năm 2009, với hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, cộng với kinh phí Trung ương khoảng 3 tỷ đồng/năm, các địa phương trong  tỉnh đã huy động các nguồn đầu tư, trị giá gần 100 tỷ đồng để chống xuống cấp cho hàng trăm di tích đã được xếp hạng. Trong quá trình tu bổ, tôn tạo di tích đều có sự quản lý, hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, đạt tiêu chuẩn về kỹ, mỹ thuật, bảo đảm chất lượng, ngăn chặn được sự xuống cấp nghiêm trọng của các di tích.

Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, nhìn lại công tác trùng tu và bảo tồn di tích thời gian gần đây, vẫn còn nhiều lo lắng, bức xúc, bởi một số di tích khi tu bổ, phục dựng có những cấu kiện kiến trúc và điêu khắc có tuổi đời hàng thế kỷ bị loại bỏ khỏi kiến trúc di tích để làm mới như nền gạch đỏ rêu phong cổ kính bị bóc đi để thay thế bằng nền gạch đá hoa hiện đại; bệ đặt tượng được bê-tông hóa, những pho tượng cổ bị quét sơn công nghiệp một cách cẩu thả, vô hồn... Cách làm trên đã làm cho không gian cổ kính, thâm nghiêm của nhiều di tích bị biến dạng hoặc bị phá vỡ, dẫn đến sai phạm trong công tác tu bổ và phục hồi di tích, như đền Độc Cước (thị xã Sầm Sơn), chùa Tiên (Nga Sơn), động Hồ Công, chùa Đa Bút (Vĩnh Lộc),... gây dư luận không tốt trong nhân dân và làm ảnh hưởng đến giá trị nguyên gốc của di tích. Theo Tiến sĩ Phạm Văn Tuấn, trưởng phòng nghiệp vụ, Ban Quản lý di tích và danh thắng, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL), cho biết: Do nhu cầu bảo tồn, trùng tu di tích quá lớn, thực tế là đội ngũ cán bộ quản lý di tích phần lớn chưa am hiểu về di tích, nên không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Mô hình quản lý di tích một số nơi vừa chồng chéo, vừa thiếu thống nhất, nên chức năng, chế độ, chính sách, nội dung và kinh phí hoạt động của các ban quản lý di tích mỗi nơi một cách, mạnh ai nấy làm. Khâu giám sát việc quản lý, bảo tồn và trùng tu di tích vẫn bị buông lỏng, thậm chí có hiện tượng chỉ quan tâm “tính vật chất” của di tích qua các công trình kiến trúc cụ thể mà xem nhẹ “tính tinh thần” của nó...

Nâng cao hiệu quả bảo tồn

Di tích lịch sử là tài sản quốc gia, Nhà nước thống nhất quản lý thông qua các hệ thống văn bản pháp quy, đó là: Luật Di sản văn hóa ra đời và có hiệu lực năm 2002, tiếp đó là Nghị định 92 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa; Quy chế Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh (năm 2003) là những cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, khai thác, bảo vệ, phát huy tác dụng của di tích đến việc trùng tu, tôn tạo phục hồi di tích, nhằm phát huy tốt hơn tiềm năng giá trị đích thực của no, phục vụ đời sống của con người trong điều kiện môi trường xã hội ngày càng phát triển.

Theo ông Viên Đình Lưu, trưởng phòng quản lý di sản văn hóa, Sở VH,TT&DL, nhận xét: Việc xã hội hóa bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là xã hội hóa như thế nào? Xã hội hóa bảo tồn di tích không có nghĩa là ai cũng có thể can thiệp vào di tích (!). Điều quan trọng hơn cả là nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của di tích và ý thức bảo vệ di tích. Qua khảo sát thực tế cho thấy: Các dự án thực hiện bằng nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đều tuân thủ đúng quy định của Luật Di sản văn hóa. Ngược lại, những sai phạm lớn được phát hiện là các dự án trùng tu, tôn tạo bằng nguồn vốn của địa phương, vốn xã hội hóa thường không thực hiện đúng quy trình, kỹ thuật, chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực tu bổ di tích... Việc thi công phải bảo tồn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích, bảo đảm sự bền vững lâu dài cho di tích sau khi được tu bổ. Người làm bảo tồn phải có kiến thức, sự hiểu biết sâu rộng và kỹ năng làm nghề tốt. Nếu đội ngũ thi công không được trang bị kiến thức cơ bản, không hiểu về nghề bảo tồn thì càng đầu tư sẽ càng “giết” di tích. Đơn cử như di tích chùa Đô Mỹ (Hà Trung); chùa Thông, đình Bồng Trung (Vĩnh Lộc) và gần đây nhất là đền thờ Lê Văn Hiểu (Tĩnh Gia)...

Để làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, rất cần sự đồng thuận của cộng đồng, kiến thức chuyên sâu về bảo tồn di sản văn hóa và trách nhiệm của những người được giao nhiệm vụ bảo tồn, giữ gìn các di sản lịch sử - văn hóa. Quan trọng hơn nữa, để làm tốt việc này, cần có cách nhìn và hành động đúng trong sự tiếp cận những giá trị văn hóa để di sản được bảo tồn và lưu truyền cho con cháu mai sau.

Theo TH

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác