Bảo tồn Làng cổ Đường Lâm trước cơn lốc đô thị hóa

Sau những ồn ã xung quanh dự án bảo tồn và những ý kiến về sự mai một của làng cổ trước cơn lốc đô thị hóa, nhóm phóng viên đã trở lại Đường Lâm, vừa để trải lòng mình với miền quê yên bình thơ mộng, vừa tìm hiểu những thông tin từng làm cho người yêu di sản phải bàng hoàng.

Bảo tồn Làng cổ Đường Lâm trước cơn lốc đô thị hóa - ảnh 1

Đường Lâm - Bảo tàng sống về lối sống nông thôn, nông nghiệp

Với những giá trị đặc biệt còn giữ được cho tới ngày nay như: cây đa, giếng nước, sân đình, lũy tre xanh, cánh đồng thẳng cánh cò bay, Đường Lâm còn được ví là bức tranh, là chốn cổ tích giữa thủ đô sôi động, được Nhà nước công nhận là di sản quốc gia năm 2006.

Với diện tích 800,25ha, dân số khoảng 9337 người, Đường Lâm gồm có 9 làng: Mông Phụ, Đông Sàng, Đoài Giáp, Cam Thịnh, Cam Lâm, Phụ Khang, Hà Tân, Hưng Thịnh và Văn Miếu thuộc thành phố Sơn Tây. Những làng này được lối liền với nhau bởi những con đường lát gạch nghiêng trải dài và gắn kết với nhau bởi cùng chung phong tục, tập quán. Không chỉ có vậy, theo thống kê, vùng “ấp hai vua” này còn là một trong những vùng hội tụ nhiều di tích lịch sử có giá trị nhất trong cả nước như: lăng Ngô Quyền, đền thờ Phùng Hưng, chùa Mía, rặng Ruối, đình Mông Phụ….

16 di tích lịch sử văn hoá, 36 gò đồi, 18 rộc sâu gần 50 ao hồ, vũng, chuôm cùng cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, dường như cũng chưa đủ để làm nên một Đường Lâm cổ kính, chưa đủ để làm nên một bảo tàng về lối sống nông thôn, nông nghiệp nếu không có những ngôi nhà phủ bóng rêu phong có tuổi thọ hàng trăm năm tuổi, vẫn giữ nguyên kiến trúc hình chữ môn, có vòm cổng, tường đá ong, sân, vườn, bình phong, nhà chính, nhà phụ, bếp, khu chăn nuôi….Đặc biệt ẩn chứa trong đó là những con người chân chất, những thuần phong mỹ tục mà bây giờ rất hiếm thấy ở những nơi khác.

Đường Lâm có mai một “cốt cách” trước cơn lốc đô thị hóa?

Không ai có thể phủ nhận được giá trị đích thực mà Đường Lâm đã trầm tích trong mình qua mấy mươi thế kỷ. Nhưng một miền quê hiền hòa, thơ mộng giữa thủ đô, miền cổ tích giữa thời hiện đại liệu có bị mai một cốt cách khi hàng ngày, hàng giờ phải chứng kiến sự đổi thay vũ bão của cuộc sống?

Không khó để tìm câu trả lời khi chúng tôi trở lại Đường Lâm. Ngay từ cổng làng, nhìn những ngôi nhà cao tầng chen vai mọc lên đầy thách thức và đám thanh niên nhuộn tóc nâu, đỏ phóng xe chạy vèo vèo, chúng tôi kịp nhận ra cơn lốc đô thị hóa đã ập tới ngôi làng bé nhỏ này và bắt đầu ăn sâu, bám rễ vào những người nông dân chất phát. Hơn 800 ngôi nhà cổ theo thống kê năm 2005 thì tới nay còn không đến một nửa. Tệ hại hơn, những ngôi nhà cao tầng chen giữa những ngôi nhà cổ không theo quy hoạch nào, tạo nên bức tranh hết sức hỗn độn.

Ngay từ khi được công nhận là di sản cấp quốc gia tháng 5/2006, chính quyền và Ban Quản lý đã có quy định cụ thể cho việc xây dựng, cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình phụ theo từng làng, từng khu vực. Vậy tại sao lại diễn ra hiện tượng này? Hỏi người dân, họ đều bao biện do diện tích ở quá chật chội, nhà lại đông nên phải chồng tầng để tiết kiệm diện tích. Nhưng có vào, “mục sở thị” mới thấy bàng hoàng bởi sự rộng rãi, tiện nghi của những ngôi biệt thự có một không hai này. Chất liệu chính không phải là gỗ, tre nứa, ngói mũi hài, ngói ri, gạch Bát Tràng (lát nền), tường đá ong, trong nhà trang trí các hoa văn, họa tiết theo các điển tích, câu chuyện dã sử, các loài cây đại diện cho bốn mùa (Tùng, Cúc, Trúc, Mai), tứ linh: (Long, Ly, Quy, Phượng), cá Chép vượt vũ môn, lưỡng Long chầu nguyệt… mà hầu hết đều được bê tông hóa với các hoa văn, họa tiết trang trí hết sức hiện đại.

Hơn 2 năm nay, những ngôi nhà trái phép như thế này vẫn không ngừng mọc lên, phá vỡ cảnh quan của làng cổ, vậy mà chính quyền xã và Ban Quản lý di tích vẫn chưa tìm ra biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, ngoài việc tuyên truyền,vận động. Không những thế, khi bị chấp vấn, để biện minh cho sự bất lực của mình, chính quyền và Ban Quản lý di tích còn cho rằng, hầu hết những ngôi nhà cao tầng đều được xây trước năm 2006, tức là trước khi có quy định chính thức về việc xây dựng, quy hoạch làng cổ. Nhưng dạo quanh Đường Lâm một vòng, nhìn vào kiến trúc, chắc chắn chúng ta sẽ chẳng thể nhận ra đâu là khu 1, quy định xây nhà một tầng, đâu là khu 2, quy định xây nhà hai tầng và đâu là khu 3..v..v…bởi đâu đâu cũng lố nhố những nhà cổ- nhà cao tầng- nhà mái bằng. Đặc biệt mốc đánh dấu thời gian xây ở mỗi ngôi nhà không bao giờ biết nói dối.

Vẫn biết rằng, bảo tồn không có nghĩa là phải nệ cổ, bắt người dân gò mình sống trong những ngôi nhà cũ kỹ, dột nát  nhưng bảo tồn theo kiểu “tân cổ giao duyên” như thế này thì liệu bản sắc có còn?

Một thực tế đau lòng nữa khi chúng tôi trở lại Đường Lâm là đất nông nghiệp gần quốc lộ và quanh làng vẫn đang bị thu hẹp. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do những người dân bán đất cho những ông chủ tứ xứ mà đông nhất là ở trung tâm Hà Nội để xây mộ phần. Đây không phải là chuyện mới bởi từ lâu các cơ quan báo, đài, thông tấn…đã lên tiếng cảnh báo nhưng thực trạng này vẫn chưa có biểu hiện chấm dứt. Mặc dù xã cũng đã tuyên truyền, kiên quyết không cho chuyển nhượng đất canh tác với bất kỳ mục đích gì, nhưng những người dân vẫn tự ý nén nút bán trao tay không qua chính quyền. Họ ngụy biện rằng, thời buổi lạm phát, giá cả leo thang, chi phí cho sản xuất nông nghiệp đắt đỏ, cày cấy vất vả, một nắng hai sương lời lãi chẳng được là bao, bán đất canh tác, có món tiền để quay vòng làm việc khác. Nhưng thử hỏi với số tiền 20-30 triệu/sào không hiểu những người nông dân này sẽ quay vòng như thế nào để có thể đổi đời, có thể thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn? Đất nước ta, biết bao tấm gương nông dân sản xuất giỏi, bằng sự cần cù và sáng tạo họ đã biến tấc đất thành tấc vàng, làm giàu bằng chính những thửa ruộng trên quê hương mình. Không biết những người dân Đường Lâm sẽ nghĩ gì, nhưng một làng thuần nông như thế này, bán đất để tiêu xài vậy tương lai sẽ sống như thế nào khi đất canh tác không còn? Quan trọng hơn, nếu đất canh tác đã bán đều được sử dụng vào việc xây mộ phần theo đúng giao kèo thì chẳng bao lâu nữa, Đường Lâm sẽ bị bao vây bởi toàn mộ phần, những bãi tha ma và bức tranh thơ mộng về làng cổ, về ấp hai vua sẽ chỉ còn là huyền thoại.

Những bất cập trong dự án trùng tu nhà cổ

Mặc dù đã có nhiều mai một, nhưng nếu chính quyền và nhân dân Đường Lâm cùng nâng cao trách nhiệm và ý thức bảo tồn đối với các phong tục tập quán, các di sản, chúng tôi tin rằng Đường Lâm sẽ còn trụ được trước cơn lốc đô thị hóa. Đặc biệt, hiện nay dự án Nhà nước đầu tư hàng trăm tỷ đồng trùng tu, tôn tạo làng cổ đang được triển khai và bước đầu có hiệu quả. Mặc dù còn không ít điều tiếng về việc sử dụng nguồn kinh phí khổng lồ này, nhưng nhìn vào sự khang trang của những công trình đã được trùng tu, tôn tạo như: Chùa Mía, đền Phùng Hưng, lăng Ngô Quyền, Đình Mông Phụ…đặc biệt là sự hồi sinh của những ngôi nhà 200-300 năm tuổi của anh Hùng, thầy giáo Vĩnh..., không ai có thể phủ nhận được lợi ích mà dự án này đã mang lại. Tuy mới khởi công ở giai đoạn đầu nhưng đã có 4/11 nhà cổ được trùng tu hoàn thiện, thoát khỏi cảnh xập xệ, dột nát. Niềm vui khôn tả, nhưng điều làm người ta băn khoăn và không ngớt bàn tán là phương thức và chất lượng bảo tồn những ngôi nhà này đã thực sự tối ưu và tương xứng với nguồn kinh phí khổng lồ mà Nhà nước bỏ ra?

Đến nhà anh Hùng, nhà thầy giáo Vĩnh…, những ngôi nhà đầu tiên đã được trùng tu hoàn thiện, gia chủ mừng lắm, không ngớt lời cảm ơn Đảng, ơn Nhà nước đã tạo điều kiện để họ có chỗ ở khang trang hơn, đảm bảo hơn, nhưng cho tới tận bây giờ họ vẫn không biết chính xác nhà của mình đã được đầu tư bao nhiêu và kinh phí chi để làm các bộ phận trong ngôi nhà như thế nào? Chỉ nghe phong phanh rằng, nhà thầy giáo Vĩnh lúc đầu chủ trương đầu tư 200 triệu nhưng bắt phải hạ mái toàn phần, tự thấy nhiều chỗ gỗ vẫn còn tốt nên gia chủ kiên quyết phản đối và yêu cầu hỏng đâu sửa đấy, nhờ vậy mà đã tiết kiệm được cho nhà nước 100 triệu đồng. Từ thực tế này, vấn đề đặt ra là, có phải vì xài “tiền chùa” nên Ban Quản lý cứ thoải mái vung tay, trùng tu, sửa chữa cả những chỗ không cần thiết? Không chỉ có vậy, theo nhiều gia chủ thì chất lượng trùng tu ở các nhà cũng chưa được đảm bảo. Ví như nhà ông Vĩnh, các khấc nối chân cột đều quá cẩu thả, không khít như cũ, các miếng vá thì thô nhám, nhiều chỗ còn không đúng với nguyên mẫu. Lý giải cho những bất cập này, ông Nguyễn Trọng An, Phó ban Quản lý di tích làng cổ cho rằng do thời tiết nên nhiều khi chất lượng thi công không được như ý muốn. Ông cũng khẳng định, kinh phí duyệt chi trùng tu những ngôi nhà cổ này đã được các cấp kiểm duyệt rất ngặt nghèo và trong quá trình sửa chữa các chuyên gia Nhật cũng giám sát rất gắt gao vì thế không có chuyện thi công sai kỹ thuật hay ăn bớt kinh phí….Nói là như vậy, nhưng những ngôi nhà cổ còn đó, các miếng vá và khấc nối vẫn còn nguyên, ai đến, bằng mắt thường cũng có thể nhận thấy, đó chính là bằng chứng, chứng minh chất lượng và khẳng định lương tâm, trách nhiệm của những người đã và đang mang trên mình nhiệm vụ thiêng liêng là trùng tu, tái tạo để làm sống lại những di sản vô giá của dân tộc.

Nhà ông Vĩnh chỉ là trường hợp khởi đầu, còn hàng chục nhà cổ nữa không sớm thì muộn cũng sẽ được trùng tu. Thiết nghĩ, hoàn toàn có lý khi  nhiều gia chủ đòi được công khai nguồn kinh phí và là một trong những thành viên tham gia giám sát việc kiến thiết nhà mình. Bởi nếu nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng giám sát lẫn nhau thì chắc chắn chất lượng trùng tu ở những ngôi nhà cổ này sẽ được nâng lên và sẽ hạn chế việc xài tiền chùa, kinh phí nhà nước rót về sẽ không phải như muối đổ bể, thất thoát một cách vô ích.

Theo CPV

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác