Bảo tồn nghệ thuật chèo

Chèo là một hình thức nghệ thuật biểu diễn dân gian do người nông dân vùng châu thổ sông Hồng sáng tạo ra. Nó là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, của nền văn hóa làng xã, và trực tiếp là sản phẩm của nhân sinh quan và vũ trụ quan nông dân Việt.

Bảo tồn nghệ thuật chèo - ảnh 1

Từ thế kỷ XV, chèo phát triển mạnh mẽ và trở thành một hình thức sinh hoạt nghệ thuật phổ biến trong xã hội, ngoài người nông dân, người trí thức Nho học cũng góp phần vào quá trình này. Đầu thế kỷ XX, do những biến động lớn về chính trị - xã hội - kinh tế ở nước ta, các đô thị dần dần được Âu hóa, thu hút một số lượng đáng kể những nông dân rời làng lên phố kiếm kế mưu sinh. Và theo chân lớp thị dân mới này, chèo cũng đến nơi thị thành phồn hoa. Đang diễn lưu động nơi cửa đình, chèo vào rạp diễn cố định, từ chiếc chiếu trải trước sân đình với người xem ngồi xung quanh ba mặt, chèo bước vào sân khấu hộp. Không gian biểu diễn đã thay đổi, khán giả cũng đổi thay, để thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh mới, nội dung và nghệ thuật của chèo cũng phải có sự đổi khác. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã hoàn tất nốt quá trình chuyên nghiệp hóa sân khấu chèo, và cũng từ đây vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo bắt đầu được đặt ra. Các đợt sưu tầm khai thác chèo cổ được tổ chức và thu hút được sự tham gia đóng góp của rất nhiều nghệ nhân chèo nổi tiếng. Các vở diễn đều được ghi âm, lời trò được ghi lại thành văn bản, những trích đoạn tiêu biểu hay nghệ thuật biểu diễn độc đáo của các nghệ nhân, các chiếu chèo... đều được ghi hình để làm tư liệu. Bên cạnh đó, việc bảo tồn chèo cổ được thông qua hình thức truyền nghề trực tiếp từ nghệ nhân sang diễn viên, từ thày sang tròi. Đây là một hình thức bảo tồn được coi là hữu hiệu nhất.

Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian khá dài, những vở diễn truyền thống càng ít dần trong dàn kịch mục và có thời gian mất hẳn; những vở chèo cổ đã được chỉnh lý, cải biên. Trước thực trạng này, có nhà nghiên cứu đã cho rằng: nhân danh “cải biên” người ta đã “phá” chèo. Thời gian mà những vở chèo mới như vậy làm chủ trên các sàn diễn cũng chính là lúc mà việc bảo tồn vốn cổ không còn được quan tâm như trước, bên cạnh đó việc nghiên cứu để khai thác, vận dụng những tinh hoa, đặc trưng của chèo cổ vào các sáng tác mới cũng ít được các tác giả, đạo diễn coi trọng. Nhưng những vở chèo này - hay người ta còn gọi bằng một cái tên khác là ca kịch mới - cũng không trụ được lâu, sau một thời gian lại phải chịu sự lạnh lùng của công chúng. Đến lúc này khán giả lại có nhu cầu được xem những vở diễn đích thực là chèo và những vở chèo cổ, chứ không phải là những vở kịch nói pha hát chèo, trong đó lớp khán giả trẻ tuổi cũng khá đông đảo. Có thể nói, đây không phải là nhu cầu có tính chất nhất thời theo kiểu “chán kim tìm về cổ” hoặc ngược lại, mà là những giá trị đã được khẳng định thì dù sau bao thăng trầm lại sẽ về đúng vị trí của mình, và chèo cổ cũng mang một giá trị như vậy.

Thực tế đời sống của nghệ thuật chèo đã khẳng định rằng, việc bảo tồn và phát huy vốn cổ chính là vấn đề sống còn của loại hình nghệ thuật đã có một bề dày lịch sử tồn tại và phát triển như chèo cổ. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay việc tiếp tục bảo tồn và phát huy như thế nào cần phải dựa trên tình hình thực tế. Được biết hiện nay phần đông người dân - tất nhiên chủ yếu là nông dân, và mặc dù chúng ta đang có tốc độ đô thị hóa rất nhanh thì nông dân vẫn chiếm đa phần dân số, hơn nữa ai dám chắc rằng những thị dân đang sinh sống trong các tòa cao ốc kia lại không còn sót trong mình một vài căn tính nông dân, vẫn rất say mê với các buổi diễn chèo ở các sân đình, chùa... trong các dịp lễ hội cổ truyền hiện đang được phục hồi rất nhanh và rất nhiều ở khắp các miền quê. Phải chăng đây là dòng chèo dân gian vẫn tồn tại ở các làng quê mà chúng ta nên khuyến khích phát triển, vì đó chính là một môi trường bảo lưu chèo cổ hữu hiệu nhất. Đồng thời các nghệ sĩ chuyên nghiệp cứ tiếp tục quá trình sáng tạo của mình, bởi bảo tồn một nghệ thuật biểu diễn không phải như bảo tồn một hiện vật bảo tàng, đòi hỏi bảo tồn chèo cổ nguyên gốc như khi nó mới ra đời là điều không tưởng. Vậy nên vận dụng được những đặc trưng, những tinh hoa của chèo cổ vào các sáng tác mới một cách hiệu quả nhất cũng chính là một hình thức bảo tồn. Tất nhiên là trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm để có được thành công sẽ có không ít thất bại, nhưng chúng ta cũng không nên quá lo ngại vì những thất bại này, bởi quyền lựa chọn thuộc về khán giả. Khán giả của nghệ thuật chèo là những người nông dân chân lấm tay bùn, nhưng cũng chính họ ngày hôm qua đã sáng tạo nên biết bao giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc, trong đó có chèo, và ngày hôm nay lại tiếp tục giữ gìn và nuôi dưỡng, tạo cho những giá trị ấy một sức sống mới, để nó có thể trường tồn cùng thời gian. Với một đối tượng khán giả như vậy, chúng ta có thể tin tưởng vào sự lựa chọn của họ, mà những vở chèo cổ được sàng lọc qua thời gian và còn lại đến nay đã chứng minh điều đó.

(Theo NĐB)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác