Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ

Dân ca quan họ Bắc Ninh (DCQHBN) là một hiện tượng văn hóa đa nghĩa, giàu giá trị, đã lưu truyền qua hàng ngàn năm với những sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Nhìn ở phương diện văn hóa, loại hình nghệ thuật trình diễn này tồn tại đậm đặc trong không gian văn hóa hai bên bờ sông Cầu nay thuộc hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang mang đậm bản sắc vùng Kinh Bắc xưa.

Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca quan họ - ảnh 1

Cho đến những năm 70 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu, quản lý và cộng đồng quan họ đã thống nhất thừa nhận có 49 làng quan họ cổ.

Trong lịch sử, DCQHBN tồn tại trong một môi trường văn hóa với những tập quán xã hội riêng như kết chạ giữa các làng quan họ và tục kết bạn quan họ. Tục kết bạn quan họ là cơ sở để hình thành sinh hoạt đi hát quan họ. DCQHBN là nghệ thuật ngàn đời nay tồn tại bằng hình thức truyền miệng, từ ông bà truyền cho cha mẹ, cha mẹ truyền cho con cái. Ðộc đáo của DCQHBN trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn. So với một số thể loại khác trong nghệ thuật trình diễn, DCQHBN có một nét đặc biệt, bởi nó là loại hình nghệ thuật trình diễn gắn bó mật thiết với lễ hội. Mỗi làng quan họ, đều có lễ hội riêng. Trong lễ hội, ngoài việc cúng tế thành hoàng hoặc phúc thần của làng, người dân còn hát quan họ. Giá trị văn hóa của DCQHBN còn thể hiện ở trang phục quan họ. Người sáng tạo, người trình diễn quan họ là những nông dân. Khi trình diễn, người quan họ thay bộ quần áo giản dị thường ngày, khoác lên mình bộ trang phục chỉ dành cho việc đi hát. Trang phục của các liền chị, liền anh thể hiện quan điểm thẩm mỹ và những tín ngưỡng xa xưa của người quan họ. Nói đến quan họ Bắc Ninh là phải nói đến ẩm thực quan họ với những nét riêng khó lẫn: miếng trầu, mâm cỗ, cách tiếp đãi, v.v.

Nhìn ở phương diện nghệ thuật và hình thức trình diễn, quan họ có hát thờ, hát hội, hát thi lấy giải, đặc biệt là hát canh. Một canh hát, giữa bọn quan họ làng sở tại và bọn khách, ngoài bài Mời nước, mời trầu là ba chặng hát: giọng Lề lối, giọng Vặt, giọng Giã bạn. Trong hát quan họ, một cặp nữ của làng này hát với một cặp nam của làng kia bằng một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ, và đối giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hòa thành một giọng. Thực ra, không chỉ Bắc Ninh, Bắc Giang có hát đối đáp nam nữ. Nhiều dân tộc trên thế giới và ở Việt Nam có hát đối đáp nam nữ,  nhưng hát đối đáp nam nữ của các dân tộc khác là sự giao lưu giữa hai nhóm nam và nữ, để các thành viên lựa chọn người mình yêu thương, sau đó tiến tới các nghi thức hôn nhân, để họ thành vợ chồng. Hát đối đáp giữa các bọn quan họ nam, nữ ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, nếu là những làng đã kết chạ thì không được cưới nhau, không được thành vợ chồng. Bởi vậy, bao đời nay, những bài ca quan họ luôn cuốn hút và làm mê đắm lòng người. Nỗi buồn man mác sâu lắng khi chia xa, nỗi vui mừng khôn xiết, sự thổn thức của con tim khi được gặp lại nhau sau một thời gian xa cách thể hiện trong các lời ca quan họ Bắc Ninh luôn chinh phục trái tim các thế hệ con người. Nội dung các bài ca quan họ thể hiện các trạng thái tình cảm: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, sự vui mừng khi gặp lại của những người yêu nhau nhưng không đến được với nhau bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ. Lời ca quan họ đều là những câu thơ, ca dao được trau chuốt đến độ hoàn mỹ, từ ngữ trong sáng, mẫu mực. Ở thời điểm hiện nay, người ta đã thống kê DCQHBN có 213 giọng khác nhau, với hơn 400 bài ca. Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca; lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi, ư hư, a ha v.v. Dân ca Quan họ Bắc Ninh chủ yếu là nghệ thuật phổ lời ca dao và thơ. Nghệ thuật này đòi hỏi phải sử dụng những tiếng phụ, lời phụ bên cạnh những tiếng chính, lời chính nhằm làm cho tiếng hát trôi chảy, bổ sung ý nghĩa cho lời ca chính, làm cho lời ca thêm phong phú, linh hoạt, tăng cường tính nhạc của bài ca đồng thời phát triển giai điệu, làm cho âm nhạc của bài ca thêm sinh động, bố cục trở nên hợp lý. Bởi vậy, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể này đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương, thật sự khoa học với các định hướng cụ thể.

Thứ nhất, nghệ nhân phải ưu tiên hàng đầu trong chính sách bảo tồn và phát huy di sản DCQHBN. Có nhiều việc chúng ta phải thực hiện như: Hoàn thiện danh sách nghệ nhân quan họ ở tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang; xây dựng chính sách đãi ngộ với nghệ nhân, nhất là những nghệ nhân được phong tặng danh hiệu "Báu vật nhân văn sống" ở các làng quan họ trên địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang; tạo mọi điều kiện để nghệ nhân truyền dạy cho thế hệ sau tại các gia đình, và các lớp dạy quan họ Bắc Ninh ở cộng đồng theo địa bàn làng xã; phát huy vai trò của nhà trường các cấp trong việc giảng dạy kiến thức về DCQHBN.

Thứ hai, phát huy cao nhất vai trò của cộng đồng trong các công việc như: Phục hồi tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội liên quan đến DCQHBN, khôi phục việc hát thi lấy giải của các làng quan họ; nhận diện và kiểm kê DCQHBN định kỳ theo từng năm; nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản thông qua việc xuất bản và cung cấp cho cộng đồng những ấn phẩm về DCQHBN dưới mọi hình thức; thành lập hiệp hội nghệ nhân quan họ Bắc Ninh, trên cơ sở các câu lạc bộ quan họ ở các làng hiện nay, xây dựng chương trình hoạt động cho hiệp hội để tổ chức phi chính phủ này đóng vai trò tích cực trong việc truyền dạy quan họ cho thế hệ trẻ.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác sưu tầm nghiên cứu về DCQHBN với các việc như: Hoàn thiện tư liệu và kết quả nghiên cứu về quan họ Bắc Ninh, kể cả ở những làng quan họ thuộc vùng phụ cận; phân loại, hệ thống tư liệu để lưu trữ và phục vụ cho việc tiếp cận của cộng đồng đối với các tư liệu về quan họ Bắc Ninh; tổ chức nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát triển quan họ Bắc Ninh trong xã hội đương đại.

Thứ tư, cần tích cực tuyên truyền, quảng bá về DCQHBN trên các phương tiện truyền thông đại chúng; tạo mọi điều kiện để cộng đồng trình diễn/giao lưu DCQHBN với các cộng đồng khác ở trong và ngoài nước; phát huy giá trị di sản quan họ Bắc Ninh trong việc phát triển bền vững ngành du lịch để góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội.

Trên thực tế, không phải DCQHBN không đứng trước những thách thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của nó. Do điều kiện của xã hội đương đại, một số phong tục, tập quán, đang có sự mai một; nghệ nhân cao tuổi thưa vắng dần... Vì thế, để giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, rất nhiều việc đang đòi hỏi chúng ta phải làm việc khẩn trương, khoa học và hiệu quả.

 

PGS, TS Nguyễn Chí Bền (Nguồn ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác