Bia cổ - di sản quý ở Tiên Lãng

Cha ông ta từ xa xưa đã có cách lưu giữ văn bản kỳ công trên các tấm bia đá. Nhờ vậy trải qua nhiều đời, lớp con cháu vẫn được chiêm ngưỡng di sản văn hóa quý giá này. Ở huyện Tiên Lãng, vùng đất giàu truyền thống văn hóa hiện có gần 300 tấm văn bia tập trung ở các xã, thị trấn. Theo Viện nghiên cứu Hán Nôm, là một địa phương còn lưu giữ số lượng lớn bia ký với nội dung phong phú, đa dạng.

Nhiều văn bia cổ

Trong số văn bia còn lại ở huyện Tiên Lãng, các nhà khoa học đã xác định được niên đại nhiều tấm rất cổ, có giá trị lịch sử văn hóa lớn. Tấm bia có niên đại sớm nhất, hiện ở xã Cấp Tiến, dựng từ đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức 22 (1491).

Bia ở xã Tự Cường dựng tháng 12 niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511), dù bị mòn chữ nhưng phía trên bia còn lưu giữ 8 dòng nội dung ghi lại việc đắp đê biển làm lợi cho dân khiến nước mặn không tràn vào trong đồng làm hại hoa màu. Phần dưới bia ghi tên 200 người công đức đắp đê.

Đặc biệt, Tiên Lãng hiện có khá nhiều bia ký từ thời Lê – Mạc còn lưu giữ được. Qua khảo sát, trong tổng số gần 300 bia ký của toàn huyện hiện nay có tới 182 bia thời Lê, 8 bia thời Mạc.

Theo các nhà khoa học đánh giá, đây là hiện tượng hiếm thấy. Bởi ngay tại Hà Nội – Thăng Long, thủ đô có nghìn năm tuổi cũng không nhiều bia ký đời Lê như vậy. Bia đời Mạc, Hà Nội cũng chỉ có 5 bia, Quảng Ninh 5, Tuyên Quang 1, Thái Bình 6, trong khi toàn thành phố Hải Phòng có 22.

Qua nội dung các văn bia đời Mạc cho thấy thời kỳ này các đình, đến, chùa, quán được tu tạo, xây dựng quy mô hoành tráng hơn đời trước, trở thành cơ sở để hoàn thiện hơn quy mô, kiến trúc của một số ngôi chùa lớn trong thế kỷ sau.

Nội dung đa dạng, phong phú

Theo nhận xét của các nhà khoa học Viện nghiên cứu Hán – Nôm, văn bia ở Tiên Lãng đa dạng, phong phú về nội dung, phản ánh cụ thể đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương trong suốt chiều dài lịch sử. Nhiều nội dung văn bia cho thấy phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

Bia “Trùng tu Thiên Phúc kiều bi” ở thôn Xuân Lai (xã Bạch Đằng) ghi lại việc cầu cũ bị đổ, gây khó khăn cho việc đi lại. Vì vậy, nhân dân quyên góp xây cầu mới quy mô hoành tráng hơn. Bia ký ở thôn Giang Khẩu (xã Đại Thắng) ghi tên 300 người đóng góp xây cầu năm 1719.

Cũng tại xã Đại Thắng còn có bia ghi lại công đức của một số người dân địa phương bỏ ra 80 quan tiền, 5 mẫu ruộng chi vào việc công là ngăn đê bị vỡ, không cho nước mặn tràn vào ven sông. Bia ở đình Chử Khê (xã Hùng Thắng) ghi lại việc tranh chấp kéo dài 7 năm về đánh cá trên sông giữa 2 thôn trên địa bàn xã.

Sau đó, một số người trong thôn giúp dân làng kiện đến quan trên về việc này. Cuối cùng, quan trên phán xét cho các thôn đều được quyền đánh bắt cá trên sông. Để ghi nhớ những người có công trong việc này, dân làng khắc tên họ vào bia đá.

Trong số văn bia của Tiên Lãng có nhiều bia từ chỉ, văn chỉ. Điều này khẳng định, Tiên Lãng từ xưa là đất học, có truyền thống hiếu học. Tại từ chỉ ở xã Khởi Nghĩa niên hiệu Sùng Khang 9 (1574) đời nhà Mạc, ghi lại công lao của Hội tư văn 12 tổng gồm: Xuân Cát, Lật Khê, An Cương, An Tử Hạ, Cẩm Khê… Văn chỉ ở làng Phú Kê, thị trấn Tiên Lãng có văn bia với nội dung quan huyện người phường Yên Thái, Hà Nội trong lúc đi kinh lý thấy khu vực này là đất cổ đã chọn xây văn chỉ vào năm Tân dậu nhưng gặp cảnh binh đao nên phải dừng, đến năm Giáp Tý công việc mới hoàn tất.

Số tiền quyên góp xây văn chỉ lên đến 1.500 quan. Văn bia còn ghi tên những người công đức xây văn chỉ và những người đỗ đạt cao. Tại thôn Nam Tử (xã Kiến Thiết), trên nền nhà cũ của Thượng thư Nhữ Văn Lan – ông ngoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, hiện còn tấm bia đá 4 mặt.

Nội dung bia có chỗ bị mờ nhưng vẫn đọc rõ một số nội dung ghi lại việc học trò của cụ Nhữ Văn Lan cùng nhau xây từ chỉ thờ cụ. Trong bia còn ghi rõ thể lệ ngày giỗ chạp và danh sách học trò của cụ, đều là các chức sắc đương thời.

Gìn giữ cho muôn đời sau

Với số lượng bia ký khá lớn, trong những năm qua, người Tiên Lãng luôn ý thức gìn giữ, bảo tồn di sản văn hóa quý giá này. Hầu hết, văn bia được đặt ở vị trí trang trọng tại các đình, đền, chùa…

Một số địa phương còn quy tập lại, sau đó xây nhà tại đền, chùa… để lưu giữ. Tuần rằm hoặc ngày lễ, các phật tử, khách đến thăm, vãn cảnh chùa đều có dịp chiêm ngưỡng bia cổ, tìm hiểu ý nghĩa nội dung văn bia qua lời kể của các nhà sư trụ trì chùa hoặc các già làng…

Một số “ông đồ” thường tìm đến các văn bia Tiên Lãng không chỉ để chiêm ngưỡng mà còn nâng cao hiểu biết về vốn chữ Hán, Nôm qua nội dung trên văn bia. Sư thầy Thích Diệu Giới, trụ trì chùa Sùng Ân ở làng Phú Kê (thị trấn Tiên Lãng) cho biết: “Nhà bia trong chùa hiện có nhiều bia đá cổ được dân làng quy tập đặt tại đây. Bảo tồn, lưu giữ bia cổ là việc làm có ý nghĩa lớn, để cùng với thời gian các tấm bia này không bị bào mòn hoặc thất lạc.

Đặc biệt, các di sản quý này chính là cầu nối văn hóa, truyền thống giữa quá khứ với cuộc sống hiện tại”.

Gần đây, Huyện ủy, UBND huyện Tiên Lãng, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội… đã phối hợp dày công sưu tầm, biên dịch… xuất bản cuốn sách “Văn bia Tiên LãngHải Phòng”.

Cuốn sách dày hàng nghìn trang, in trên chất liệu giấy tốt, đóng bìa đẹp, liệt kê lại các văn bia hiện còn trên địa bàn, niên đại, ghi chép nội dung văn bia bằng chữ Hán, Nôm, lưu lại nội dung quý giá của các văn bia qua bản dịch và lược thuật công phu của các nhà khoa học.

Đó là việc làm thiết thực rất đáng trân trọng của những người tâm huyết mong muốn mỗi người dân Tiên Lãng hiểu biết về di sản văn hóa cha ông để lại ngay trên quê hương mình, gìn giữ và lưu truyền đến thế hệ mai sau.

 

Theo Báo HP

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác