Cự Đà - làng Việt cổ

Sau làng cổ Đường Lâm, Cự Đà là một trong những làng Việt cổ điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngành văn hoá thông tin đang có kế hoạch xếp hạng bảo tồn.

Đến Cự Đà đầu xuân Đinh Hợi, chúng tôi như được thả hồn vào một bức tranh quê nào đó của đầu thế kỷ 20. Cổng làng hình vòm cuốn, mái cong vút, hai cột bên và trên hai mặt đều đắp nổi chữ Hán thoạt trông cổng như một gác chuông chùa nào đấy. Cự Đà là một làng giáp với Hà Nội, thuộc xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Cái đẹp của làng là nép vào dòng sông Nhuệ quanh quanh, trước đây khi sông chưa bị ô nhiễm thì vẫn còn thấy con trẻ bơi lội tung tăng, còn đò ngang đò dọc. Cảnh trên bến dưới thuyền một thời vẫn còn lưu dấu ấn ở các bậc thềm gạch của mỗi xóm vươn ra mép nước.

Nhưng cái cổ kính của làng thì chính lại là các di tích. Đường cái làng là trục giao thông men theo bờ sông, mỗi ngõ đâm ngang lại có một cổng ngõ cũng theo mô hình cổng làng cổ kính.

Cái mô hình quy hoạch hình xương cá này điển hình cho một làng Việt cổ ven sông có hình thái kinh tế vừa nông vừa thương. Mặt tiền của làng không chỉ là cổng làng (mà làng có những 3 cổng, kể cả cổng giữa làng), lại còn là cả một dải bến sông.

Cái địa lợi trước đây của làng chính là "nhất cận thị, nhị cận giang". Ngõ hẹp toả đi từng ngôi nhà, ngõ nào cũng hun hút sâu. Nhà cổ vẫn còn nhiều, nếu như căn cứ vào niên đại còn được khắc trên câu đầu một số nhà khung gỗ thì số nhà có tuổi từ 100 năm trở lên cũng còn hơn ba chục.

Những nhà này được lợp ngói ta. Còn số nhà tuổi 70-80 năm thì đếm không xuể. Trong lúc nhiều làng không còn bói đâu ra nhà cổ thì ở làng này vẫn còn cả một "kho".

Người làng Cự Đà cũng bắt đầu ý thức được cái giá trị của nhà cổ từ khi thấy có các nhà khoa học Nhật Bản đến đo vẽ và láng máng hiểu được giá trị kinh tế và văn hoá cổ khi mà nơi đây được nâng cấp nay mai thành một điểm du lịch trọng điểm.

Cái cổ của làng còn ở ngôi chùa đã được xếp hạng Di tích Quốc gia. Chùa có tên là Linh Minh Tự, còn nguyên cột đá "cây hương" ghi lại năm trùng tu chùa là Chính Hoà thời Hậu Lê, 1695.

Những tưởng niên đại xây chùa và niên đại lập làng có lẽ khoảng 500-600 năm đổ lại. Nhưng phát hiện khảo cổ học ngay trong đầu xuân Đinh Hợi này đã kéo dài tuổi của làng Việt cổ Cự Đà lên đến khoảng 2000 năm.

Đó là việc đào được những viên gạch có hoa văn đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền, gạch múi bưởi được xếp từng hàng lớp khi tu sửa nền chùa đã phát hiện ra. Những viên gạch đặc trưng này của các ngôi mộ thời Bắc thuộc cách đây hai mươi thế kỷ.
 
Thêm nữa đầu làng còn có một gò cao tên gọi là Đống Già, được các nhà khảo cổ cho rằng đấy chính là một ngôi mộ gạch thời Bắc thuộc khá lớn. Phát hiện khảo cổ đã cho thấy làng đã được hình thành thuộc loại sớm nhất vùng và những nơi có mộ gạch như vậy thường là những trung tâm kinh tế, xã hội sầm uất một thời.

Miếu và đình làng cũng được xếp hạng Di tích Quốc gia. Đáng chú ý nơi đây còn có di tích đàn tế bằng đá xanh mà người dân vẫn gọi là đàn tế trời đất, một dạng của đàn Xã Tắc thuộc loại đẹp nhất nước.

Bên cạnh vẻ đẹp cổ, làng còn có vẻ đẹp cận đại. Đó là những ngôi nhà cổ và công trình kiến trúc được xây cất từ những năm 1920-1940 trông rất "Tây". Ven sông còn để lại một cột cờ cao vút được xây dựng năm 1929, các di tích nhà Hội đồng, nhà Thọ từ (trường học).

Các nhà có kiến trúc theo kiểu nhà Tây giống với nhà Tây ngoài Hà Nội còn lại khoảng năm chục chiếc ở ngay trong làng. Vào thời đó, Cự Đà còn là thôn duy nhất của cả vùng có đường điện thắp sáng.

Những năm này cũng là những năm người làng kéo nhau ra Hà Nội lập xưởng, làm chủ nhà máy, chủ cửa hàng, tiệm buôn  khá đông. Một loạt tên tuổi các nhà giàu Hà Nội lấy tên hiệu bắt đầu bằng chữ "Cự" như Cự Doanh, Cự Chân ngành dệt, Cự Phát... đều là người Cự Đà, chọn chữ Cự để ghi nhớ nơi chôn nhau cắt rốn.
 
Tầng lớp công thương ra Hà Nội cũng mang tiền về quê để xây nhà tậu ruộng. Dấu tích một thời còn để lại ở hai khối tượng cóc bằng đá xanh đặt ở bến sông, trên trụ đỡ tượng còn khắc dòng chữ Hán "Vạn cổ nghiễm nhiên" (Muôn đời trang trọng phú quý).
 
Trên hai khối tượng còn khoét lỗ để đèn dầu. Đó là một loại "hải đăng" để thuyền bè buôn bán trên sông Nhuệ trong những đêm tối trời định đúng hướng mà ghé vào cổng ngõ nhà ai đó.

Bên cạnh vẻ đẹp di tích vật thể, làng Cự Đà còn giữ được vẻ đẹp văn hoá phi vật thể. Người Cự Đà lập nghiệp khắp nơi và khá thành công ở Hà Nội, Hà Đông, cả ở nước ngoài. Nhiều người xa quê gốc Cự Đà lấy ngày hội làng 14 tháng Giêng là ngày kéo về làng tề tựu, dự hội, thắp hương cho tổ tiên.

Cự Đà còn là một làng nghề nổi tiếng xa gần bởi 2 đặc sản. Tương Cự Đà thuộc loại ngon nhất nước, ngày nay vẫn sản xuất cho khắp vùng và Hà Nội. Miến Cự Đà cũng là mặt hàng chủ đạo. Đến Cự Đà ngày nào cũng gặp hình ảnh miến được phơi trắng xoá ngõ xóm.

Với nhiều thế mạnh về mặt di tích, lại là một làng nghề đang ngày đêm nhộn nhịp, Cự Đà đáng để được coi là một địa điểm du lịch về một làng Việt cổ còn bảo toàn nhiều sắc thái truyền thống.

Một điểm mạnh nữa của ngôi làng về mặt du lịch là nằm quá gần Hà Nội: Cự Đà chỉ cách hồ Gươm vào khoảng 15km theo đường chim bay, đi ôtô, xe máy cũng được mà cưỡi xe đạp cũng xong.

PGS-TS Trịnh Sinh ( LĐCT)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác