Đừng vì lợi ích trước mắt mà quên đi tổ nghiệp .

Trong lịch sử Việt Nam, nhiều làng nghề truyền thống làm nên tên tuổi một vùng. Nhưng hiện nay, có những làng nghề chỉ còn trong quá khứ vì nhiều lý do.

Ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.Ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.

Dưới đây là cuộc trao đổi cùng ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Làng nghề Việt Nam về vấn đề này.
Thưa ông, hiện nay một số làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một, thậm chí mất hẳn. Phải làm thế nào để khôi phục và phát triển các làng nghề?
Trong lịch sử đất nước và nhiều địa phương, ngành nghề truyền thống đã làm nên tên tuổi một làng, một vùng quê, đi vào tiềm thức của mỗi người. Ngày nay, gìn giữ làng nghề truyền thống là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Việt Nam còn là một nước đang phát triển, nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, việc bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam là rất cần thiết.  
Hiện cả nước có 4.500 làng nghề, trong đó 1.600 làng được công nhận làng nghề truyền thống. Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, có không ít làng nghề bị mai một theo thời gian. Dù biết việc khôi phục và phát triển làng nghề trong thời điểm hiện nay là rất cần thiết nhưng thực tế, ở các địa phương vẫn còn nhiều khó khăn. 

Việc đầu tư cho các làng nghề truyền thống chưa được các ngành, các cấp chú ý. Trình độ lao động trong các làng nghề truyền thống còn thấp, hầu hết chưa được đào tạo, chỉ thông qua hình thức “cha truyền con nối”, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa xuất khẩu.

Để khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cần bắt kịp với nhu cầu của xã hội. Đó là hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến tới sản xuất bền vững cả về sản lượng và chất lượng. Làm được điều đó, phải xem làng nghề truyền thống là một bộ phận chính trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, không nên xem đây là một nền kinh tế phụ để giải quyết những lao động nhàn rỗi ở những vùng nông thôn.
Theo đó, cần đẩy mạnh công tác quy hoạch các làng nghề truyền thống phù hợp với điều kiện của từng vùng để tạo thu nhập cho người lao động, đồng thời phát huy được bản sắc văn hóa đặc thù của các địa phương…
Thưa ông, làm thế nào để đưa sản phẩm của làng nghề tiếp cận với người tiêu dùng và xuất khẩu ra nước ngoài?
 
Mở cửa hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài. Hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ... đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng. Tuy nhiên, để sản phẩm của làng nghề tiếp cận với người tiêu dùng và xuất khẩu ra nước ngoài, rất cần phải có khoa học và công nghệ để có thể phát triển bền vững.
Trong các ngành nghề thủ công như việc sản xuất gốm, việc chuyển từ khi đốt bằng than củi, chuyển sang than đá và đến hiện nay là ga đã giúp đẩy nhanh tiến độ công việc, giảm tải sức lao động, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã góp phần giúp sản phẩm của làng nghề được đứng vững và phát triển bền vững trên thị trường.

 

Việc kết hợp tay nghề thủ công việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất, các sản phẩm thủ công Việt Nam có chất lượng ngày càng cao, đa dạng về kiểu dáng, phong phú về chủng loại, được nhiều người tiêu dùng trong nước và thế giới ưa chuộng. Tiêu biểu như gốm Bát Tràng, nhờ có sự ứng dụng công nghệ sản xuất mới đã đưa sản phẩm gốm Bát Tràng từ dạng thủ công thuần tuý tới dạng sản phẩm kết hợp giữa tính dân tộc và tính hiện đại.

Các công đoạn trong công nghệ về lò nung, việc phân loại đất... được ứng dụng, tận dụng đưa vào tạo ra những sản phẩm “tinh”, giúp tạo ra các loại hoa văn đẹp hơn, tinh xảo hơn. Với tranh sơn mài,  việc kết hợp khoa học công nghệ với kỹ thuật truyền thống đã tạo ra những sản phẩm hoàn hảo về thẩm mỹ và chất lượng, được ưa chuộng tại nhiều nước.
Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm tồn tại và phát triển của một làng nghề truyền thống trong tình trạng khó khăn hiện nay?
Trong khi không ít nghề truyền thống ngày càng mai một thì nhiều làng nghề lại phát triển mạnh mẽ do biết cách kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, biết tận dụng thế mạnh của du lịch, của truyền thông như lập các trang web riêng để quảng bá sản phẩm.
Tôi lấy một ví dụ cụ thể. Nghề làm nón lá ở xã Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) cứ tưởng rằng sẽ không còn tồn tại trong thời buổi người dân chỉ còn dùng các loại mũ thời trang và … mũ bảo hiểm. Nhưng ngược lại, nghề nón lá Liêm Sơn vẫn tồn tại và phát triển mạnh, giúp hàng trăm hộ dân địa phương thoát nghèo và có cuộc sống khá giả. Năm 2009, giá trị sản xuất từ nghề nón đạt 12,4 tỷ đồng; năm 2010 đạt 15,2 tỷ đồng và 6 tháng đầu năm 2011 đạt 8 tỷ đồng.
Một trong những “bí quyết” thành công của nón lá Liêm Sơn là kết hợp với các cơ quan chức năng, các cấp có thẩm quyền hỗ trợ tăng cường quảng bá giới thiệu, ký kết hợp đồng tiêu thụ nhằm tạo uy tín và chỗ đứng cho sản phẩm. Ngoài ra, đưa sản phẩm tiếp cận với du khách nước ngoài là mục tiêu mà nón lá Liêm Sơn đặt ra là một hướng đúng, đã mang lại kết quả tốt.

Liêm Sơn còn biết tận dụng lợi thế nguồn nguyên liệu tại chỗ, khai thác nguồn nhân lực địa phương,  xây dựng hình thức tổ hợp tác, hội ngành nghề để gắn kết giữa làng nghề, nghệ nhân, thợ thủ công và các doanh nghiệp trong việc mở rộng quy mô sản xuất, truyền nghề.
Một trong những nguyên nhân khiến cho làng nghề bị mai một là không xây dựng được thế hệ kế cận cũng như tình hình khan hiếm lao động ở các làng nghề. Ông đánh giá như thế nào về thực trạng này? 

Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, thời gian gần đây, số lao động thường xuyên trong các làng nghề giảm tới 35% mỗi năm. Thiếu nhân lực là một trong những trăn trở lớn đối với các làng nghề hiện nay.
Có những làng nghề hiện nay đứng trước nguy cơ thất truyền vì thiếu đi thế hệ kế cận. Những thế hệ đi trước giờ là những nghệ nhân già, những ngón nghề có khả năng sẽ đi theo các nghệ nhân nếu như không tìm được người nối nghiệp. Lớp trẻ ngày nay lại không mặn mà lắm với nghề của tổ tiên vì lợp nhuận không cao, thị trường tiêu thụ hẹp, tốn nhiều thời gian… và quan trọng là phải rất tâm huyết và bỏ ra nhiều công sức mới thạo được nghề.

Việc đào tạo một thợ lành nghề đã khó nhưng giữ cho người thợ gắn bó và nhận thức đúng về nghề lại càng khó hơn. Trước thực trạng ngày càng hiếm những bàn tay vàng của làng nghề, Hiệp hội làng nghề Việt Nam đã có những đề xuất để tháo gỡ. Tuy nhiên, đây cũng không phải là chuyện một sớm một chiều.
Chúng tôi đã đề xuất và được Chính phủ chấp thuận cho tham gia đào tạo 1 triệu lao động, năm 2010 đã đào tạo 7.000 người. Học xong có việc ngay và trong khi đào tạo không phải đóng một khoản phí nào, thậm chí còn có thu nhập thêm. Chương trình này đã phần nào bảo đảm được lao động ở các làng nghề.
Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất là giáo dục ý thức gìn giữ nghề truyền thống của gia đình, của địa phương cho thanh thiếu niên càng sớm càng tốt. Nếu chỉ vì cái lợi trước mắt mà quên đi nghiệp tổ nghiệp tông là có tội lớn.
Hiện nay có tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số làng nghề. Ý kiến của ông ra sao trước vấn nạn này?
Hiện tượng ô nhiễm môi trường ở một số làng nghề là điều rất đáng báo động. Tuy nhiên, đây là việc vô cùng khó khăn, phức tạp đòi hỏi thời gian, cơ quan chức năng không thể xử lý bằng cách xóa bỏ làng nghề đó.
Làng nghề ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng tới môi trường sinh thái nói chung, đến sức khoẻ và cộng đồng dân cư mà còn đe doạ đến sự tồn tại và phát triển của chính các làng nghề. Người dân làm nghề vừa là chủ thể, vừa là nạn nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, tuy nhiên nguyên nhân chính là do các cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải.
Để cân bằng được giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là một bài toán khó. Mỗi hộ dân một ngày thu lãi khoảng vài chục đến vài trăm nghìn đồng từ nghề truyền thống nhưng để xây dựng được khu xử lý nước thải phải tốn hàng tỷ đồng
Để giải quyết tình trạng ô nhiễm làng nghề cũng như để cứu các làng nghề, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Nhiều giải pháp được đưa ra như chú trọng nghiên cứu thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; thành lập các trung tâm bảo vệ môi trường làng nghề; xây dựng quy định, hương ước về bảo vệ môi trường ở mỗi làng nghề; tăng cường các hình thức tham gia, hỗ trợ cho các cơ quan quản lý môi trường địa phương để bảo vệ môi trường làng nghề… Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là ý thức người dân, không vì lợi ích trước mắt mà xem nhẹ việc ô nhiễm môi trường.

Theo DVT

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác