Giữ gìn vốn tiếng cổ của người Ơ Đu

Từ những năm 90, Viện dân tộc học đã về huyện Tương Dương (Nghệ An) tìm hiểu nhằm khôi phục, bảo tồn tiếng Ơ Đu đã và đang bị mất. Tuy nhiên đến nay, dự án bảo tồn văn hoá Ơ Đu đã được phê duyệt đầu tư đang “trống đánh xuôi kèn thuổi ngược” trong lúc tộc người này đang tiếp tục bị “hòa tan”.

Đã gần mười năm mới có dịp quay lại bản Ơ Đu, những mong lần này lên sẽ gặp lại thầy giáo Lo Kim Trọng, người con Ơ Đu đầu tiên có trình độ đại học, nào ngờ vào bản nghe hung tin, Trọng đã lên với “mường Then”(trời) khi chưa kịp về bản mới...

Nỗi buồn cố nhân.

ông Lo Hồng Phong năm nay đã quá tuổi lục tuần nhưng còn giữ chức trưởng bản như năm  nào. Vẫn nước da màu đồng hun, đôi mắt đã mờ đục dõi nhìn như vô định. Ông buồn rầu báo tin: “Khi cả bản Kim Hoà đang chuẩn bị rời nơi chôn nhau cắt rốn nhưỡng chỗ cho nước Nậm Nơn dâng ngập phát ra ánh sáng điện cho mọi nhà đến nơi ở mới thì một đêm không trăng, thầy Trọng đột ngột ngã bệnh và vĩnh viễn nằm lại Cành Pại. Vậy là niềm tự hào về người đầu tiên có nhiều con chữ nhất của người Ơ Đu đã không còn, thương tiếc lắm!”. Nghe ông kể, tôi chợt nghĩ có lẽ Trọng mãi không muốn rời xa con sông, ngọn núi nơi tộc người mình đã gắn bó ngàn đời trong truyền thuyết đau thương. Vậy nhưng còn may mắn được gặp các “pò”(già bản): Lo Văn Hậu, Lo Văn Bằng, Lo văn Mằn, mế Bún những người còn lưu giữ được chút ký ức về tiếng mẹ đẻ ở Khu tái định cư thuỷ điện bản Vẽ ở Văng Môn, xã Nga My. Các “pò, mế” nay đều đã qua tám mươi, chín mươi mùa rãy, mắt đã mờ, gối đã mỏi sắp về với “Then” rồi. Ông Phong nói: Thời gian  qua mau mà lớp con cháu cũng chỉ bập bõm học được vài tiếng Ơ Đu do các già truyền lại.

Ông Lo Văn Mằn, tộc trưởng Ơ Đu nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Tương Dương, bố đẻ của thầy Lo Kim Trọng, nhắc lại: “Tên gọi tộc người này trước đây là Tày Hạt, rồi Ê Đu, bây giờ là Ơ Đu. “Hạt”, theo tiếng Thái là rách rưới, Ơ Đu còn gọi chệch sang là Ê Đu- nghĩa là thương lắm. Ông còn nhắc lại câu chuyện truyền thuyết đau thương trên đỉnh Pu Bán với dấu tích của thành luỹ và một số khuôn đúc bạc, đúc ăng ti moan của người Ơ Đu để lại. Chúng tôi muốn nghe ông nói lại một số tiếng Ơ Đu, nhưng cũng như lần gặp trước cố gắng lắm  ông cũng chỉ nói được một số tiếng như: Pố nghĩa là Bố; Me- mẹ; Dinh- nhà; tả- cơm; kha- cá. Già Lo Văn Hậu, người Ơ Đu còn biết khoảng 80% tiếng mẹ đẻ, nay đã già yếu lắm  lại cất lời ca cũ đơn giản: “...A lê, A lê! nham bau hom pảng/ Nhã là ham hing/ A lê, A lê! Xám xíp xã pên tụm là no vét/ Pét xíp xã tụm là no văn/ A lê, Alê...”  Dịch đại ý : Lại gần đây lại gần đây/ Cho em được chào mời/ Miếng trầu để anh nhai cho thơm miệng/ Lại gần đây, lại gần đây!/ Để nghe cho rõ lời em kể/ Khi son trẻ chưa giáp mặt nhau/ Giờ về già đầu bạc răng long mới gặp/ Lại gần đây, lại gần đây!...Già nói muốn truyền lại cho con cháu vốn tiếng mẹ đẻ còn biết được nhưng chúng không chịu học. Còn trưởng bản Lo Hồng Phong đề xuất có một giáo trình về tiếng Ơ Đu hoặc có khoản kinh phí nào đó bồi dưỡng cho các già  để dạy lại cho con cháu lớp trẻ.

Vẫn còn thương lắm...!

Trưởng bản Lo Hồng Phong dẫn chúng tôi đi thăm  bản tái định cư Văng Môn. Bản chia làm ba khu, mỗi khu được bố trí khoảng hai mươi hộ. Ông cho biết theo tiến độ của Ban quản lý dự án Thuỷ điện 2, từ tháng 7. 2006 đã có 63 hộ trên tổng số 73 hộ, hơn 388 khẩu người Ơ Đu bản Kim Hoà về bản mới.

Ba khu nhà được quy hoạch theo hàng lối cùng một mẫu thiết kế nhà sàn cấp 4 theo diện tích khác nhau, cá biệt một số hộ ở nhà trệt và dựng lại nhà sàn gỗ đưa từ bản cũ về. Đi sâu vào ba khu, tôi thấy nhiều hộ lấy bìa gỗ ghép tạm bợ và hình như chỉ sinh hoạt dưới sàn, điều này rất ít thấy khi vào bản người Ơ Đu trước đây. Ông Phong nói: “Về bản mới có đường to đi lại thuận lợi hơn, nước về tận bản, con em đi học thuận lợi hơn, nhưng lại khó khăn cái khác là chưa sản xuất được gì chỉ dựa vào tiền nhà nước. Còn nhà thiết kế theo kiểu này chưa đúng với phong tục, tập quán. Thường nhà người Ơ Đu là ba gian, gian ngoài là phòng khách và thờ tổ tiên, cúng ma. Hai gian còn lại phía trong mới ngăn buồng và nóc nhà bếp phải rời ra không cùng chung dọc với mái nhà ở  như đã làm. Tại khu hai có hai nhà làm không đúng hướng của người Ơ Đu nên bà con kiêng chưa vào ở... còn nhiều vấn đề khác mà bà con than phiền chưa hợp".

Ông Đặng Đình Khai, Trưởng phòng định canh định cư- Ban Dân tộc Nghệ An, trình bày: Dự án bảo tồn cộng đồng dân tộc Ơ Đu được UB Dân tộc phê duyệt tháng 6.2005, tổng mức đầu tư 3,043 tỷ đồng, trong đó 1,5 tỷ đồng cho bảo tồn văn hoá vật thể và phi vật thể, còn lại dành cho hỗ trợ sản xuất, xoá đói giảm nghèo và giáo dục. Đúng ra khi thực thi dự án này Ban quản lý dự án thuỷ điện 2 cần phối hợp với Ban dân tộc và huyện Tương Dương cần thống nhất phối hợp thực hiện. Nhưng như đã thấy, dự án không được phối hợp đồng bộ mà chia cắt ra. Qua nghiên cứu xây dựng dự án chúng tôi thấy, ở vùng cao Nghệ An, mỗi dân tộc có đặc điểm cư trú khác nhau. Người Mông cư trú làng bản theo hình vành khăn, người Khơ Mú theo hình tổ chim, còn người Ơ Đu  bố trí cư trú theo hình mặt tập. Ngược lại ở đây chỉ là “nhà xây Chính phủ” chứ không giữ được cấu trúc nhà ở, hỉnh thể cư trú nghĩa là phá vỡ và đi ngược lại dự án bảo tồn văn hoá cộng đồng Ơ Đu. Chưa tính đến trong tổng số 74 ha khu tái định cư có phù hợp với trình độ canh tác của bà con. Tuy nhiên trước đó Ban dân tộc đã phát hiện ra vấn đề về mẫu nhà, những bất hợp lý, không phù hợp với tập quán đồng bào khi đến ở, và đã có văn bản đề nghị sửa đổi nhưng không được chấp nhận. Ông Vi Tân Hợi, Phó chủ tịch UBND huyện Tương Dương bức xúc: “Đối với việc tái định cư người Ơ Đu ở Văng Môn, ngay lúc đầu huyện thấy rõ là không đảm bảo bảo tồn văn hoá đã đề xuất với Ban quản lý dự án thuỷ điện 2 là xây dựng nhà theo mô phỏng, cần tham khảo ý kiến, nguyện vọng của bà con về kiến trúc và hình thể cư trú nóc nhà của người Ơ Đu luôn hướng vào đỉnh núi, xuôi theo dòng chảy... nhưng không được chấp nhận. Trên huyện miền núi rẻo cao Tương Dương, trong số cộng đồng các dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú... đang chung sống thì Ơ Đu là tộc người ít ỏi nhất. Qua bao thăng trầm của thời gian và lịch sử, tộc người này còn hơn 70 hộ và gần 400 người. Việc bảo tồn văn hoá người Ơ Đu hiện nay cực kỳ khó vì cả văn hoá vật thể và phi vật thể hầu như đã mất. Để bảo tồn văn hoá cộng đồng tộc người Ơ Đu, trước hết phải xoá đi mặc cảm tự ti, bị đồng hoá của họ; mặc dù tốn kém nhưng phải tiếp tục sưu tầm vốn cổ còn có thể, việc này cần có tâm huyết và sự đầu hỗ trợ lớn của Nhà nước. Trước mắt phải nâng cao đời sống cho bà con ngang bằng với các dân tộc khác trong vùng...”

Già Hậu còn nhớ, năm 1997, người Ơ Đu bản Kim Hoà vẫn còn lưu giữ được một bộ y phục nam và một khung dệt vải của cha ông để lại. Có một đoàn cán bộ vào đây sưu tầm, mượn của bà con hai báu vật ấy về nhưng không thấy trả lại. Bây giờ có muốn khôi phục lại kiểu ăn mặc của dân tộc mình thì cũng không còn mẫu. Được biết những năm 90, Viện dân tộc học đã về Tương Dương tìm hiểu nhằm khôi phục, bảo tồn tiếng Ơ Đu đã và đang bị mất. Tuy nhiên mãi đến nay, như đã thấy trong dự án bảo tồn người Ơ Đu đã được phê duyệt đầu tư đang “trống đánh xuôi kèn thuổi ngược”, trong lúc người Ơ Đu tiếp tục bị “hoà tan”.

Khi kết thúc bài viết này, tôi lại nhớ lời già Hậu: “Dù nay mai Hốm xọi, Cành Pại, Pu Bán... có bị ngập, xoá hết vết tích ngàn đời nơi người Ơ Đu sinh sống, nhưng vẫn vui được trở lại mường “Xiêng Mèn” ( vùng xã Yên Hoà và Nga My hiện nay), đây cũng là nơi xưa kia tổ tiên người Ơ Đu từng đến lập bản dựng mường”.  Chúng tôi thấy đôi mắt mờ đục trên gò má răn reo của già Hậu rân rấn lệ mà nhớ câu chuyện xưa: “Ê Đu”- vẫn còn thương lắm!

Theo Nhân dân

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác