Hướng đi nào cho bảo tồn âm nhạc cổ truyền

Di sản âm nhạc cổ truyền Việt Nam hiện nay đang ngày bị mai một. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để bảo tồn, khôi phục và quy tập trong tay một gia sản âm nhạc dân tộc đầy đặn, phong phú. Cách duy nhất là phải giải được bài toán “thống kê” của các nhà chuyên môn với những tiêu chí đạt tới mẫu chung thống nhất trong công tác suy tầm.

Ảnh: Thiên LamẢnh: Thiên Lam

Hội thảo 3 ngày do Viện âm nhạc phối hợp với Cục di sản văn hoá - Bộ VHTT tổ chức đã đi đúng con đường mà nó cần phải đi để vừa tôn vinh di sản văn hoá phi vật thể vừa là một cách để nhanh chóng hội nhập với thế giới về văn hoá.

 

Với hơn 28 bản tham luận, hội thảo “Bàn về công tác thống kê vốn di sản âm nhạc cổ truyền Việt Nam và những vấn đề liên quan” đã thu hút được các giáo sư đầu ngành làm công tác bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, bảo tồn di sản âm nhạc cổ truyền và các nhà chuyên môn, chức năng tại các tỉnh, thành phố.

 

Lời giải nào cho bài toán thống kê

 

Với mục đích tìm một lời giải ngắn nhất, hiệu quả nhất cho công tác thống kê các di sản, hội thảo đã đưa ra nhiều con đường khác nhau cho công tác sưu tầm, trong đó có sự so sánh đối chiếu với công tác sưu tầm tại các nước tiên tiến.

 

TS Lê Thị Minh Lý – Phó Cục trưởng Cục di sản Việt Nam với nhiều năm làm công tác nghiên cứu đã chỉ ra thực tế là có rất nhiều công tác sưu tầm của chúng ta hiện nay chưa đạt tiêu chuẩn, “các dự án điều tra thống kê làm riêng rẽ, ít có sự kế thừa, liên hệ và phối hợp cho cùng một mục tiêu”. Theo tiêu chí của UNESCO, các danh mục thống kê của chúng ta chưa nhất quán, cái mục đích tốt thì không thu hút được cộng đồng, cái có sự tham gia của đông đảo cộng đồng thì mục đích chưa cao.

 

Việc cần kíp của công tác thống kê là một nhận thức thực tế của rất nhiều nhà chuyên môn. Bởi lẽ như bà Nguyễn Thị Minh Châu nói “các cụ xưa chẳng thống kê mà vẫn lưu truyền được vốn quý qua bao đời... nhưng hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với một thực trạng đáng lo ngại: đời sống xã hội trong thời đại toàn cầu hoá biến đổi nhanh đến mức khôn lường đang xoá dần không gian tự nhiên của nhiều loại hình nhạc cổ”. Bà cũng chỉ ra thống kê di sản đòi hỏi một loạt thao tác mang tính chuyên ngành như liệt kê, đối chiếu, đánh giá, phân loại, tổng hợp và hệ thống hoá kết quả điền dã sưu tầm.

 

GS Tô Ngọc Thanh cũng đã đưa ra những mục đích để thống kê, tiêu chí lựa chọn và giới thiệu một mô hình khá bài bản tại hội thảo. Mục đích hướng tới xây dựng một tiêu chí chung thống nhất dạng như xác định hệ thống chủ, xác định tiêu chí phân loại thể loại, các hệ thống cấp hai, cấp ba và nội dung đề mục chi tiết. Đây cũng là quan điểm được nhiều nhà chuyên môn để xuất dưới cách này hay cách khác tại hội thảo.

Bên cạnh việc sưu tầm bằng văn bản, lưu trữ dưới dạng băng đĩa từ, đĩa CD, VCD thời gian qua cũng đã được Viện âm nhạc nâng cấp bằng việc ra đời một hình thức lưu trữ mới, qua hệ thống công nghệ được mang tên “Hệ thống ngân hàng dữ liệu và Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam”. Đây cũng yêu cầu bức thiết để thiết lập một hệ thống thống kê di sản âm nhạc cổ truyền dân tộc một cách hệ thống, bảo quản lâu dài với mọi loại hình âm nhạc cổ truyền một cách nguyên bản nhất phục vụ cho công tác nghiên cứu và bảo tồn di sản âm nhạc quốc gia.

 

Nghệ nhân - người nắm giữ di sản

 

Những phương pháp thống kê mà những nhà chuyên môn đưa ra, khá nhiều bản tham luận chú trọng đến công tác bảo tồn di sản ở khía cạnh người nắm giữ và truyền dạy vốn di sản đó. Bà Đỗ Lan Phương – Ban Nghiên cứu Di sản Văn hoá phi vật thể cho rằng: “Trong rất nhiều nội dụng của công việc sưu tầm tư liệu để thống kê di sản âm nhạc cổ truyền Việt Nam, chúng ta nên chúý hơn vào vấn đề thống kê nghệ nhân, xem đó như là yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị của công tác thống kê di sản”.

 

Do vậy, theo bà cần thiết phải bổ sung thế hệ học trò kế cận và phân loại nghệ nhân. Bởi với những loại hình âm nhạc truyền miệng và hát bằng trí nhớ, việc bổ sung lớp học trò kế cận là một yếu tố cần. Các thông tin thống kê không chỉ đơn thuần là những số đếm dành cho các di sản mà còn phải là những dự báo về khả năng tồn tại của di sản đó trong tương lai. Ví dụ như trong đợt tặng danh hiệu Nghệ nhân quan họ Bắc Ninh năm 2004 cho 6 nghệ nhân thì sau một năm, một nghệ nhân qua đời, 3 nghệ nhân khác không hát được nữa, chỉ còn một nghệ nhân hát tốt. Những học trò của họ thì không ai biết. Đáp ứng yêu cầu thống kê di sản văn hoá âm nhạc cổ truyền cần thiết phải có sự bổ sung của lớp học trò kế cận.

 

Đồng ý với quan điểm này, ông Bùi Trọng Hiền – Ban nghiên cứu di sản Văn hoá phi vật thể cũng chỉ ra tầm quan trọng của hai vai Thầy – Trò trong quá trình lưu truyền. Ở đó yếu tố hết mình đòi hỏi cả ở Thầy và Trò sự nhiệt tình, lòng yêu nghề và tài năng để truyền dạy và học tập.

 

Thêm nữa, hiện nay chúng ta mới đang nhìn nghệ nhân ở khía cạnh là một người chơi nhạc cụ hơn là người sáng tác. Ngay cả khái niệm nghệ nhân cũng “mặc định cho khâu thực hành nghệ thuật còn khâu sáng tạo thì bỏ qua”. Coi nghệ nhân là di sản sống, sống động nhất trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam nghĩa là chúng ta cần có một thái độ trân trọng. Sự ẩn dật và mai một món nghề cũng chỉ bởi lẽ chưa có một quy chế, một chế độ nào cho các nghệ nhân.

 

Cần có một chính sách cho âm nhạc cổ truyền

 

Việc thống kê đặt ra yêu cầu bức thiết là tìm cho ra bản gốc, tìm ra nguồn của loại hình âm nhạc, để từ đó đưa ra những tiêu chí phân biệt giữa loại hình âm nhạc đó ở từng địa phương với những dị bản được lưu truyền tại những địa phương khác. Ví dụ nếu Ả đào được coi là đặc sản của đất Hà thành thì đâu là nét đặc trưng để phân biệt ca trù Hà thành với nơi khác. Cùng với sự lên án hiện tượng “đạo nhạc” gần đây cũng bắt đầu có lời cảnh báo về thói quen “ăn sẵn” trong vận dụng nhạc cổ. Việc sao chép của những tác giả vô danh đang khá phổ biến là yêu cầu bức thiết đòi hỏi phải có một quy chế rõ ràng với vốn di sản để tránh bị khai thác bừa bãi, lãng phí và làm mất nguyên bản.

 

Một thực tế đáng buồn hiện nay theo ông Bùi Trọng Hiền là “Trên những phương tiện truyền thông đại chúng và trong thị trường băng đĩa, cổ nhạc Việt Nam vẫn là “của hiếm” – cái vốn bị coi là không ai nghe, chẳng ai mua. Nhưng giờ có muốn nghe cũng chẳng biết tìm đâu”. Ông cũng lên tiếng: “Nhà nước cần hoạch định một chính sách riêng cho nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung, giới nghệ nhân cổ nhạc nói riêng”. Trong số những biện pháp mà ông đưa ra, ông chú trọng tới chế độ đãi ngộ cho các nghệ nhân và tạo dựng môi trường sống đích thực bằng cách cho ra đời nhóm xã hội nghệ thuật cổ truyền tại các địa bàn sở tại. Những nơi này sẽ là cơ sở truyền dạy, là nơi biểu diễn định kỳ và là địa chỉ văn hoá âm nhạc cổ truyền trên từng địa bàn.

 

Đòi hỏi xây dựng một quy chế thẩm định, kiểm định, đánh giá chất lượng thống kê âm nhạc từ TW tới địa phương. Đồng thời xác lập quyền, trách nhiệm của cơ quan quản lý, người quản lý, bảo quản, cung cấp tư liệu thống kê âm nhạc Việt Nam và đối với đối tượng khai thác tài sản âm nhạc là những yêu cầu mà TS Lê Văn Toàn – Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc đề xuất tại hội thảo.

 

Từ kết quả thống kê di sản âm nhạc, hy vọng những nhà chuyên môn sẽ xây dựng được Danh mục di sản âm nhạc của quốc gia để hoạch định chiến lược bảo vệ di sản âm nhạc cùng với các loại hình di sản khác có liên quan nhằm phát huy di sản âm nhạc trong sự phát triển bền vững.

(Theo Vnme)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác