Kế thừa, phát huy di sản văn hóa cồng chiêng ở Gia Lai

Cồng chiêng phổ biến ở nhiều vùng, nhiều quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, không phải ở đâu cồng chiêng cũng có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần con người như với cư dân Tây Nguyên. Ðối với người Gia Rai và Ba Na ở Gia Lai, cho đến hôm nay, cồng chiêng là một phần không thể thiếu trong đời sống của đồng bào.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại.Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại.

Ở Gia Lai, cồng chiêng được người Gia Rai gọi là ching, người Ba Na gọi là ching chêng. Tuy nhiên ở mỗi nhóm địa phương cũng còn có những cách gọi khác nhau: Người Gia Rai Chor (vùng Ayun Pa, Ia Pa) gọi là Ching dù chỉ có một chiếc hay trọn bộ; nhưng người Gia Rai Aráp (ở Chư Pah) chỉ gọi những chiếc không có núm là ching, có núm là chêng và khi hợp đủ thành bộ mới được gọi là ching chiêng.

 

Cồng chiêng có mặt trong mọi nghi lễ cộng đồng cũng như của từng gia đình, từ lễ hội liên quan đến từng cá nhân, cộng đồng cho đến những lễ hội quan trọng trong một mùa trồng tỉa của cư dân nông nghiệp.

 

Người Gia Rai, Ba Na không đơn thuần chỉ coi cồng chiêng là một loại nhạc cụ mà còn là một linh khí, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thần linh đồng thời cũng là phương tiện để chuyển tải thông tin nhanh nhất giữa các buôn làng.

 

Trước đây, người Gia Rai, Ba Na chỉ đánh cồng chiêng khi gia đình hay cộng đồng có việc. Nghe tiếng chiêng, những người trong làng, trong vùng hiểu ngay rằng ở phía có tiếng chiêng đang có việc gì để đến chia buồn hoặc chung vui.

 

Trong nửa đầu thế kỷ 20, cồng chiêng vẫn được người Gia Rai, Ba Na coi là những tài sản quý. Những tù trưởng giàu có trong cộng đồng - theo quan niệm của đồng bào - không phải là những người nhiều vàng, nhiều bạc mà là những người có nhiều ché, nhiều chiêng.

 

Cho đến những năm đầu giải phóng, còn thấy mỗi buôn làng Gia Rai, Ba Na đều có ít nhất vài ba bộ cồng chiêng, làng giàu, số cồng chiêng có thể lên tới hàng chục bộ như ở Broái huyện Ia Pa (của người Gia Rai) hay Pei Mơ Hra, xã Kông Lơng Khơng, huyện KBang (của người Ba Na)... nhưng đến năm 1999, kết quả khảo sát của các phòng văn hóa - thông tin cấp huyện cho biết: toàn tỉnh Gia Lai chỉ còn 5.117 bộ cồng chiêng (trong tổng số hơn 900 làng dân tộc Gia Rai, Ba Na). Cho đến nay, con số này chắc chắn còn giảm nhiều trong cơ chế thị trường đầy thách thức.

 

Người Gia Rai, Ba Na sử dụng cồng chiêng nhưng bản thân họ không đúc được cồng chiêng. Những điều tra khảo cổ học cũng như điền dã dân tộc học trong vùng người Gia Rai và Ba Na cho đến nay vẫn không phát hiện thấy trong phạm vi cư trú của họ có nghề đúc đồng. Công cụ đúc đồng duy nhất được tìm thấy ở Gia Lai cho đến nay chỉ có một mang (một mặt) khuôn đúc rìu đồng nằm trong khu vực giao tiếp giữa người Việt và người Ba Na.

 

Phương pháp đánh cồng chiêng theo truyền thống của người Gia Rai là mỗi người đánh một chiếc. Tiếng cồng chiêng vang lên là âm thanh phối hợp ăn ý, nhịp nhàng của cả một tập thể sử dụng một bộ hay nhiều bộ cồng chiêng. Ở cả người Gia Rai và Ba Na, cồng chiêng chỉ do người đàn ông sử dụng, chưa thấy trong trường hợp nào có phụ nữ đánh cồng chiêng.

 

Không phải đến khi UNESCO công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại thì tỉnh Gia Lai mới quan tâm đến giá trị văn hóa độc đáo này.

 

Ngay từ mùa xuân năm 1985 (cách đây hơn 20 năm) nhân dịp kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền nam, Sở Văn hóa - Thông tin Gia Lai - Kon Tum (cũ) đã phối hợp với Viện Nghiên cứu âm nhạc Việt Nam tổ chức Liên hoan và hội thảo khoa học về cồng chiêng cấp tỉnh. Ðây là cuộc hội tụ lớn đầu tiên của cồng chiêng Tây Nguyên và cũng là cuộc hội ngộ đầu tiên của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa về âm nhạc và văn hóa cồng chiêng trong cả nước để đưa ra những kết quả nghiên cứu, đánh giá giá trị cồng chiêng trên các mặt: âm nhạc, văn hóa, sức sống... trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên...

 

Năm 1986, Sở Văn hóa - Thông tin Gia Lai - Kon Tum đã xuất bản cuốn kỷ yếu Nghệ thuật cồng chiêng với 25 tham luận khoa học và 17 bài phát biểu của đại diện nhiều cơ quan trung ương và địa phương.

 

Sau khi tỉnh Gia Lai - Kon Tum chia tách, ngành văn hóa - thông tin Gia Lai đã chỉ đạo các cấp tổ chức nhiều cuộc liên hoan cồng chiêng theo chu kỳ: hai năm một lần ở cấp xã và huyện, bốn năm một lần ở cấp tỉnh. Ngoài ra là nhiều cuộc liên hoan dành cho thiếu nhi.

 

Năm 2003, Gia Lai đã tổ chức cuộc liên hoan cồng chiêng toàn tỉnh lần thứ VI, thu hút 22 đội cồng chiêng với gần 700 nghệ nhân tiêu biểu của các huyện, thị xã, thành phố tham gia.

 

Trong những liên hoan gần đây, Gia Lai đã mở rộng nội dung theo hướng liên hoan nghệ thuật dân gian để có thể thu hút và bảo tồn thêm nhiều loại hình văn hóa dân gian độc đáo khác mà địa phương chưa có điều kiện tổ chức những cuộc thi riêng như: sử dụng các nhạc cụ cổ truyền ngoài cồng chiêng, hát dân ca, dệt thổ cẩm, điêu khắc gỗ dân gian... Ðây là một trong số ít biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì thường xuyên việc dạy và học cồng chiêng tại cộng đồng.

 

Từ năm 1999, sau khi tiến hành điều tra để nắm sơ bộ số lượng cồng chiêng hiện còn tại các buôn làng, sở đã chỉ đạo các huyện, xã triển khai ngay việc thành lập các đội văn nghệ quần chúng, các đội cồng chiêng tại các buôn làng. Ðến nay, Gia Lai có hơn 500 đội văn nghệ quần chúng, trong số đó có khoảng 300 đội cồng chiêng. Ðây là lực lượng quan trọng, đóng góp tích cực vào việc bảo tồn văn hóa cồng chiêng.

 

Nghệ thuật cồng chiêng là giá trị nội bật trong tài năng sáng tạo của người Gia Rai, Ba Na nói riêng, cư dân bản địa Tây Nguyên nói chung; nó bắt rễ sâu từ lịch sử - văn hóa của những tộc người này. Ðến nay, cồng chiêng vẫn "sống" trong các buôn làng... Nhưng, với tác động của cơ chế thị trường, nhất là sự xâm nhập của các văn hóa tôn giáo ngoại lai mà nhiều di sản văn hóa cổ truyền của cư dân Tây Nguyên, trong đó có cồng chiêng đang đứng trước nguy cơ bị thu hẹp dần phạm vi ảnh hưởng. Hơn bao giờ hết chúng ta cần tới sự hợp lực của cả cộng đồng để kế thừa, bảo vệ và tôn vinh di sản văn hóa vô cùng quý giá này.

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác