Một bảo tàng ngoài trời cho văn hóa Sa Huỳnh

Một hình thức chôn người (táng) phổ biến trong các quan tài chum bằng đất nung hoặc chôn trần bên ngoài gọi là mộ đất cùng với nhiều đồ tùy táng bằng đất nung nồi, bát bồng... Các công cụ sinh hoạt bằng đá, đồng (rìu, dao, giáo) đặc biệt là các kiểu dáng loại đồ trang sức bằng đá quí, mã não, thủy tinh, vàng... đã tồn tại cách đây 2.500 năm lần đầu tiên được phát hiện ở đồng muối Sa Huỳnh, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi) nên các nhà khoa học đặt tên là Văn hóa Sa Huỳnh tương đương với văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc của nước ta. Để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích này, cần có một cách trưng bày mới hình thức giới thiệu dễ hiểu cho mọi người dân đặc biệt là giới sinh viên, học sinh...

 

Những bổ khuyết sau 100 năm

Với hàng chục chuyên gia nghiên cứu về Văn hóa SH đã đến Quảng Ngãi hồi giữa cuối tháng 7, sau khi tham quan các di chỉ ở SH đã biết ở đầm muối SH, vùng đất phía nam của Quảng Ngãi được phát hiện vào năm 1909 và vùng đảo Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) - nơi di chỉ mộ táng của người SH cổ trong những năm gần đây. Sau đó, các nhà chuyên môn tiếp tục ngồi lại với nhau tiếp tục bàn về những phát hiện của nền văn hóa này. Những nhà khảo cổ học trong nước trình bày những phát hiện về Văn hóa SH tại địa phương miền Trung, cùng với việc đối sánh các phát hiện của đồng nghiệp ở các tỉnh khác. Có cả bản tham luận thống kê, mô hình hoá các loại hình di vật là mộ táng và các đồ tùy táng trong tục chôn cất của người SH cổ. Các nhà khảo cổ nước ngoài cũng vừa trình bày những phát hiện những nền văn hoá tương đồng với SH ở vùng Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Philiphines... vừa có những nhận xét hay kết luận khác với nhà khảo cổ trong nước. Ví dụ như SH biển, SH núi, tiền SH, hậu SH, SH cổ điển... Hay sự đồng ghép nền văn hoá ở miền Trung Việt Nam với Philipines gọi là SH - Kalanay. Vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải mã, tuy nhiên qua các hình ảnh được trình chiếu trong hội thảo ta dễ dàng nhận thấy sự thống nhất của phương cách táng (chôn người) và nổi bật nhất là đồ tùy táng, công cụ sinh hoạt và đồ trang sức khá giống nhau của các cư dân cổ vùng Đông Nam Á.

Những ngày vừa qua, nhiều tỉnh ở miền Trung - nơi phát hiện ra dấu vết tiền sơ sử của các cư dân cổ SH đã đồng loạt tổ chức, tọa đàm sinh hoạt khoa học trưng bày các hiện vật về nền văn hóa cổ này. Tai Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã có một triển lãm qui mô về các hiện vật tiêu biểu đưa về từ các cuộc khai quật của những địa phương trên. Quảng Nam với một địa hình, địa mạo “nổi trội về địa văn hóa” (câu nói của có Giáo sư Trần Quốc Vượng) là sông, bàu, cồn, gò mà người SH cổ đã để lại nhiều khu mộ táng nhất. Hình thức phổ biến, đặc trưng nhất là cách táng người qua đời trong quan tài bằng gốm đất nung sau này các nhà khoa học còn phát hiện thêm mộ đất. Nhưng quan trọng các hình thức táng này bao giờ cũng kèm theo đồ tùy táng (bao gồm đồ người chết đã sử dụng và đồ dâng cúng tượng trưng gọi là minh khí) bằng đất nung, kim khí (vàng, đồng, sắt). Nhưng thú vị và hấp dẫn nhất để các nhà khoa học phải tốn nhiều thời gian nghiên cứu về các đồ trang sức đá quí bằng mã não, thủy tinh.

Dấu vết Quảng Nam

Một sinh hoạt khoa học giới thiệu về văn hóa SH được bảo tàng và thư viện Quảng Nam tổ chức vào tuần qua đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Chiều, giảng viên khoa Sử (Đại học KHXN&NV) - một người đã chủ trì nhiều cuộc khai quật văn hóa SH tại Quảng Nam - cặn kẽ trình bày, trình chiếu trên màn hình đã cho ta hình dung được tổng quan về địa bàn rộng lớn của dấu vết di chỉ là các khu mộ táng của người SH cổ trên các bờ sông, gò, cồn xứ Quảng, nhất là lưu vực sông Thu Bồn. Từ nơi cao nhất vùng của người Cơtu (ở xã Tabhing, huyện Nam Giang) đến hạ lưu, hải đảo xa xôi với các di chỉ Gò Dưa, Gò Mã vôi (Duy Xuyên), Lai Nghi (Điện Bàn), An Bang, Hậu Xá tận đến bãi Làng, Cù Lao Chàm (Hội An). Kể cả các di chỉ nằm dọc ven sông Tam Kỳ, sông Tranh, sông Tiên với Bàu Trám, Bàu Dũ, Tiên Hà, Tiên Lãnh ... Hầu như dọc theo các dòng sông Quảng Nam đều có dấu vết của người SH cổ.

Giả sử, nếu người Pháp phát hiện các di chỉ này đầu tiên không phải là SH (Quảng Ngãi), có lẽ họ đã đặt tên cho nền văn hóa này là Văn hóa Duy Trung, Quế Phước hay Quế Lâm của Quảng Nam!

Người viết bài này đã từng tham gia vài cuộc khai quật ở đây và đã phải chứng kiến nhiều khu mộ táng (như khu nghĩa địa của người xưa) đã bị những người rà phế liệu, tìm cổ vật phá tan hoang hàng trăm mộ chum. Khi các nhà khảo cổ đến nơi, họ chỉ còn công việc “chữa cháy” là… thu nhặt ít mảnh gốm đã bị đảo lộn. Nhìn các di chỉ Gò Dưa, Gò Mã Vôi (Duy Trung, Duy Xuyên) đến di chỉ đồi Đình (Đại Lãnh), Gò Mun (thị trấn Ái Nghĩa - Đại Lộc) hoặc những gò đất ở Quế Phước, Quế Lâm (nơi có di chỉ Bình Yên, Thạch Bích thuộc huyện Nông Sơn hôm nay)… đã bị phá hủy trước đó, mới thấy sự đậm đặc các dấu vết của người SH cổ ở Quảng Nam. Nhiều nhà khảo cổ đã có ý tưởng cần phải gìn giữ hiện trạng các di vật, dấu vết của loại hình di tích ấy. Việc này cần sự phối hợp của người quản lý và trực tiếp nhất là các kỹ sư bảo tồn (như chống sụp, xói mòn, ngập lụt và cả hiện vật của di vật), có phương án khả thi trong việc gìn giữ an toàn di chỉ.

Cần một bảo tàng ngoài trời?

Năm 1995, tôi tình cờ được tham quan một bảo tàng tại tỉnh Fukuoka (Nhật Bản). Đây là một bảo tàng ngoài trời đặc biệt, được xây dựng trên một hố khai quật về một nền văn hóa có giai đoạn đồng niên đại của văn hóa SH - văn hóa Yayoi (kéo dài từ 300 năm trước Công nguyên đến 300 năm sau Công nguyên) được đặt tên một vùng lân cận của Tokyo đánh dấu con người biết trồng lúa nước và làm đồ gốm mới vì vũ khí bằng đồng, gương và chuông đồng phát triển từ miền Nam Kyushu và miền Bắc Honshu. Nét khác biệt ở chỗ, quan tài bằng chum này không chôn đứng như văn hóa SH mà đặt nằm. Chúng ta đã có Bảo tàng văn hóa SH ở Hội An hay phòng trưng bày ở Bảo tàng Duy Xuyên, Điện Bàn nhưng theo tôi - người đã tham gia trưng bày hiện vật này - vẫn chưa thấy hiệu quả về phát huy các giá trị hiện vật văn hóa SH. Vì thế, một ý tưởng nảy sinh là tại sao chúng ta không dựng một bảo tàng thật sống động trên hố đào có mái che để tiếp tục bảo quản hiện vật, tạo lối đi thuận lợi vừa là nơi thu hút khách tham quan, nghiên cứu nhất là giúp cho giới sinh viên, học sinh học tập, tìm hiểu một cách sinh động nhất về một cư dân cổ đã từng sinh sống trên vùng đất xưa ở Quảng Nam này?

Thiết nghĩ, việc trưng bày này dẫu có khó khăn về tài chính, con người nhưng vẫn có thể làm được bằng sự chủ động và phối hợp của các nhà quản lý và giới chuyên môn. Đây là hình thức trưng bày tốt nhất mang hiệu quả mọi lứa tuổi đến tham quan mà người Nhật đã mạnh dạn thực hiện từ trước. Thật rõ ràng, dễ hiểu khi kèm theo những minh họa cho người thời nay hiểu rõ cách làm gốm, tạo hoa văn (dùng tre, dùng dây, vồ gỗ tạo họa tiết) thời xưa; hoặc trưng bày bằng cách treo các chum gốm lên cao để ta xem phần hoa văn ở đáy ngoài đặt gương phản chiếu để xem cách tạo hình ở bên trong... Một điều mà tôi trăn trở nữa : Đừng hiểu văn hóa cổ chỉ dành cho nhà khảo cổ. Dân ta biết sử ta là cách để hiểu biết quá khứ tốt nhất, và một bảo tàng ngoài trời cũng chính là trung tâm nghiên cứu Văn hóa SH của miền Trung trong tương lai.

 

Theo QN

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác