Những chuyện đáng bàn trong bảo tồn di tích ở Hà Tây

Toàn tỉnh Hà Tây hiện có 2.388 di tích, trong đó có gần 400 di tích được Bộ VHTT xếp hạng, hơn 400 di tích được UBND tỉnh ra quyết định bảo vệ, 12 di tích được Bộ VHTT xếp hạng đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, có tới 25-30% các di tích trên đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, cần được đầu tư.

Gác chuông chùa Phượng Trì (Đan Phượng). Ảnh: Nguyên QuỳGác chuông chùa Phượng Trì (Đan Phượng). Ảnh: Nguyên Quỳ

Nhắc đến hệ thống di tích của tỉnh ta không thể không kể tên các ngôi chùa được xây dựng từ đời nhà Lý, những đình làng có kiến trúc đẹp như đình Thụy Phiêu (Thụy An, Ba Vì) được xây dựng vào đầu thế kỷ XVI, đình Tây Đằng và đình Thanh Lũy được xây dựng từ thế kỷ XVI. Ngoài ra còn phải kể đến các di tích thời Mạc rất quý hiếm, được bảo tồn tương đối nguyên vẹn như đền Và, chùa Mui và nhiều quán đạo đan xen với Phật giáo trong hệ thống Đan Sơn tứ quán nằm giữa vùng đất thuộc 2 huyện Đan Phượng, Hoài Đức, trải dài ven các con sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy. Nói đến di tích Hà Tây còn phải kể đến các làng cổ như: Làng Đường Lâm (Sơn Tây), làng Nhị Khê (Thường Tín).

Ở đây, ngoài những di tích đình, chùa, miếu, nhà thờ họ còn có rất nhiều ngôi nhà được xây dựng cách đây hàng trăm năm. Các di tích kiến trúc độc đáo, mang yếu tố văn hóa bản địa, có giá trị nghệ thuật, với các chất liệu gỗ, đá, đất nung... có di tích được xem là tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam. Những cây cột bằng gỗ ngọc am gần 100 năm tuổi cùng với hệ thống vì kèo chạm rồng, hoa văn bệ đá bách hoa đài và cảnh quan thiên nhiên độc đáo ở chùa Thầy; các bộ vì kèo chạm rồng, hoa văn, bệ đá chạm những con giống niên đại Trần ở chùa Bối Khê, gạch đất nung, các con rồng đá thời Mạc, hai pho tượng ướp xác ở chùa Đậu; hệ thống tượng cổ truyền chùa Tây Phương; nghệ thuật chạm khắc tinh xảo trong kiến  trúc đình làng được xem như những bảo tàng tại chỗ ở các đình Tây Đằng, Chu Quyến, Liên Hiệp, Đại Phùng... cùng rất nhiều giá trị văn hóa nghệ thuật khác. Những di tích này là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống, nơi lưu giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tạo nên nét đặc sắc của văn hóa Hà Tây.

Trước thực tế có khoảng 25-30% các di tích trên đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, với chủ trương bảo tồn, giữ gìn các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, trong những năm gần đây bằng nhiều nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, cấp bộ, ngành và tỉnh công tác trùng tu di tích đã được chú ý. Mặt khác, Hà Tây là địa phương có mật độ di tích đậm đặc nhất trong toàn quốc nên từ năm 2002, Việt Bảo tồn dân tộc đã chọn Hà Tây làm nơi triển khai đầu tiên cho dự án “Điều tra cơ bản di tích của người Việt ở Châu thổ Bắc bộ”, bởi vậy, công tác này càng có nhiều thuận lợi. Trong những năm gần đây, nhiều di tích đặc biệt quan trọng và các di tích lớn như chùa Tây Phương, chùa Thầy, chùa Mía, đình Tây Đằng, đình Tường Phiêu, chùa Đậu, chùa Mui, chùa Bối Khê, đình Mông Phụ, thành cổ Sơn Tây, đền Hát Môn đã và đang được bảo tồn, tu bổ, tôn tạo cơ bản. Hàng trăm di tích khác cũng được tu bổ từ chương trình mục tiêu về di tích của Bộ VHTT và đầu tư chống xuống cấp của tỉnh cùng với sự huy động nguồn lực của nhân dân. Sở VHTT đã hoàn thành các dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn, tu bổ, tôn tạo, phát huy di tích của tỉnh đến năm 2020.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay là do các di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng nhưng kinh phí đầu tư chống xuống cấp thực chất chỉ mang tính chất hỗ trợ công tác bảo tồn di tích. Đây là lý do dẫn đến tình trạng di tích không được bảo quản thường xuyên, hư hỏng nhỏ không được sửa chữa ngay, khiến các di tích ngày càng bị xuống cấp nghiêm trọng. Mặt khác, nhiều nơi sử dụng nguồn kinh phí từ các tổ chức xã hội và nhân dân ủng hộ cho việc đầu tư tu bổ di tích chưa có hiệu quả. Một thực tế khác nữa đang diễn ra khá phổ biến trong quá trình tu bổ di tích là xu hướng công đức những bức tượng có kích cỡ quá lớn cho những ngôi chùa cổ, điều này đã phá vỡ sự hài hòa của tổng thể kiến trúc chùa. Bên cạnh đó là việc sơn son thếp vàng lại các ngôi tượng cổ và đồ thờ một cách tràn lan, thiếu kỹ thuật, thiếu thẩm mỹ.

Trùng tu di tích trong điều kiện tiền hỗ trợ không tương xứng dẫn đến tình trạng “muối bỏ biển” và không thể “cải thiện” được sự xuống cấp của di tích. Thế nhưng, trùng tu theo hướng “cách tân” không chỉ làm mất đi giá trị nghệ thuật của di tích mà còn làm đau đầu các nhà quản lý. Bởi vậy, nên chăng với những di tích có giá trị nghệ thuật cao nhất thiết phải có sự tham gia của cơ quan chuyên ngành về bảo tồn di tích. Mặt khác, cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân để họ hiểu đúng hơn về công tác bảo tồn di tích, tránh tình trạng tu bổ di tích một cách ồ ạt làm biến dạng di tích.

(Theo HTO)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác