Những tiếng đồng âm vang

Cuốn theo nhịp sống hiện đại, người ta hối hả, xô bồ, gấp gáp. Nhưng lòng bỗng trầm tĩnh kỳ lạ khi lắng nghe một tiếng chuông đồng. Tiếng chuông ngân vang qua ngàn năm lịch sử, vọng lên từ đất, từ nước, từ cuộc sống dung dị thường nhật của những người thợ đúc tài hoa.

Những tiếng đồng âm vang - ảnh 1

Cách đây khoảng 3000 năm, người Việt đã biết đúc các công cụ, vũ khí và đồ trang sức bằng đồng. Nhưng phải đến thời vua Lý Thần Tôn, đúc đồng mới thực sự trở thành một nghề thủ công ở nước ta. Những sản phẩm đa dạng bằng đồng còn lưu giữ đến ngày nay là những bằng chứng cho một thời kỳ phát triển huy hoàng của nghệ thuật đúc đồng. Tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn. Trống có cấu tạo gồm ba phần là tang, lưng và chân trống. Mặt trống đồng cũng được chia thành ba phần biểu thị quan niệm vũ trụ của người xưa là Trời, Đất và Siêu nhiên. Ngoài vẻ đẹp cân đối, trống thực sự hấp dẫn bởi sự bí ẩn của những hoa văn trang trí. Và điều kỳ diệu hơn là trống đã đánh dấu sự có mặt của đồ đồng trên suốt quá trình dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Vào thế kỷ 10, trong thời kỳ giao tranh với các sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đã tặng cho dân làng Thượng Lâm (Mỹ Đức – Hà Tây) một chiếc trống đồng để thờ. Trống đồng còn âm vang trong nghi lễ hùng tráng của vua Trần khi tiếp sứ nhà Nguyên ở Thăng Long, bừng bừng khí thế trong tiếng hô quân đánh đuổi giặc ngoại xâm của Hai Bà Trưng rồi lại sục sôi nhiệt huyết dưới thời Tây Sơn “áo vải cờ đào”.

Rất nhiều các tượng đồng, sản phẩm điêu khắc đồng của Việt Nam đã làm các chuyên gia nước ngoài phải kinh ngạc như chuông chùa Thiên Mụ, tượng Trần Hưng Đạo ở công viên Vị Hoàng, tượng Như Lai ở chùa Kim Thành – Plâycu… Nổi tiếng suốt gần 500 năm qua, làng đồng Ngũ Xã có những tác phẩm đã trở thành tiêu biểu cho nghệ thuật dân tộc Việt
Nam. Đặc biệt là pho tượng Phật A Di Đà thờ tại chùa Thần Quang. Đây được coi là một “Kỳ công tuyệt mỹ” được đúc vào giữa thế kỷ XX. Khuôn đúc được tạo nên từ 72 tấn đất sét và hàng chục tấn đồng. Tượng ở tư thế ngồi bằng, cao 3m95, nặng 10 tấn, toạ lạc trên toà sen 96 cánh. Bố cục, hình khối của tượng đơn giản nhưng hài hoà, toát lên vẻ đẹp đặc trưng cho văn hoá tín ngưỡng của người Việt. Nếu như tượng A Di Đà ở Hà Nội tiêu biểu cho nghệ thuật đúc tượng đồng thì Cửu Đỉnh ở Huế tiêu biểu cho điêu khắc đồng. Cửu Đỉnh đúc vào cuối năm 1835 và hoàn thành vào đầu năm 1837. Kích thước và trọng lượng của các đỉnh không giống nhau. Lớn nhất là Cao Đỉnh, nặng tới 2601kg, cao 2,5m. Nhỏ nhất là Huyền Đỉnh, cũng nặng 1935kg, cao 2,31m. Mỗi đỉnh còn được khắc một tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ miếu hiệu của một vị vua nhà Nguyễn. Đỉnh khắc tên của vị vua nào sẽ là biểu tượng cho vị vua đó. Xung quanh hông đỉnh còn được chạm nổi 153 hình ảnh như núi sông, trăng sao, cây cối… Cửu Đỉnh là những tác phẩm bằng đồng ngợi ca cảnh đất nước thanh bình và ước mơ thịnh trị mãi mãi của các triều đại phong kiến.

Để làm được những tác phẩm đồng kỳ vĩ như vậy, người thợ đúc phải trải qua rất nhiều công đoạn vất vả. Trước tiên là khâu làm khuôn. Đây là khâu quan trọng nhất quyết định tính nghệ thuật của tác phẩm. Khuôn được làm từ đất sét, bùn ao, giấy bản, vôi, trấu phơi khô, giã nhỏ, rây mịn và trộn đều với tro trấu. Loại đất này có khả năng chịu nhiệt tốt và tạo bề mặt nhẵn bóng cho sản phẩm. Khuôn bao giờ cũng được làm thành hai nửa gọi là hai “bản âm”. Khi đổ khuôn đúc, hai bản này sẽ được ghép với nhau tạo thành một khối hoàn chỉnh. Sau khi khuôn làm xong, người ta còn hàn xương sắt bên ngoài rồi đắp thêm một lớp đất bùn để khuôn được chắc và không bị xê dịch. Khâu thứ hai là giai đoạn nung khuôn. Việc điều chỉnh ngọn lửa khi nung khuôn là một kỹ thuật khó, đòi hỏi người thợ phải giàu kinh nghiệm sao cho khuôn vừa độ chín, không bị nứt và xước. Tiếp theo là nấu đồng và đổ đồng vào khuôn đúc. Lượng đồng cho vào nấu phải tính toán để vừa đủ, không thiếu lại không thừa. Rót đồng cũng phải thật khéo và đều tay, nếu không đồng sẽ bị ngắt nhịp. Những người thợ Phường Đúc vẫn thường truyền nhau câu chuyện về các nghệ nhân cha ông xưa suýt bị tội tru di tam tộc sau khi đúc xong chín khẩu Thần công cho Đại Nội. Nguyên nhân là trong số chín khẩu súng khi được nâng lên thì một khẩu bất ngờ bị gãy làm đôi. Hiện tượng này là do lúc rót đồng, những người thợ đã không rót liên tục khiến đồng bị ngắt nhịp. Nhưng ngoài sự khéo léo và đều tay, người thợ đúc còn phải thật kiên trì và tỉ mẩn để ngồi mài dũa, chạm khắc và đánh bóng sản phẩm. Tác phẩm đồng trở nên sắc nét và đẹp hơn chính là nhờ giai đoạn này.

Có thể nói những người thợ đúc đồng là những Ông Mụ, Bà Mụ đã tạc nên dáng hình cho đồng. Nhưng nghệ thuật đúc đồng không dừng lại ở việc tạc nên một dáng hình mà đỉnh cao của nó chính là tạo nên những sản phẩm đồng có hồn, có “thần”, có một thứ âm thanh vang ngân, trong trẻo, thấu vào tận tâm thức của con người. Nói đến âm thanh của trống đồng Đại Việt, Sứ bộ nhà Nguyên là Trần Phu khi được vua Trần nghinh tiếp ở Thăng Long đã phải thốt lên rằng:

“Kim qua ảnh lý, đan tâm khổ
Đồng cổ thanh trung, bạch phát sinh”



Nghĩa là:

Trong bóng giáo mác, tấm lòng đau khổ
Nghe tiếng trống đồng, tóc bạc phơ



Để tạo được những âm thanh kỳ diệu như vậy cho đồng, người nghệ nhân phải có hiểu biết về nhạc cụ, nhạc khí, hiểu biết về kỹ thuật luyện kim. Họ phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc bí truyền của dòng họ về các thông số kỹ thuật tạo cộng lực âm. Có như vậy âm thanh của chuông, trống mới thật trong và vang xa.

Thế mới biết để tạo nên một sản phẩm đúc đồng và để trở thành một nghệ nhân đúc đồng không hề đơn giản. Và điều đáng nói hơn nữa là việc duy trì được làng nghề đúc đồng còn không đơn giản bội phần. Đúc đồng - Một nghề cổ của dân tộc đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức. Trước xu thế của xã hội hiện đại, các vật dụng bằng đồng trong gia đình không còn đủ sức cạnh tranh với đồ nhôm và đồ sành sứ. Đúc đồng chỉ còn tập trung chủ yếu vào việc sản xuất các đồ thờ cúng và tượng đồng. Tuy vậy, do đồ đồng có tuổi thọ lâu nên nhu cầu mua của khách hàng thấp, chỉ mang tính nhỏ lẻ. Hơn nữa, để tạo nên thành phẩm, người thợ đúc còn phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường độc hại như hơi nóng của lò nấu đồng, bụi khí phát tán với các chất độc hại như Clo, Mangan, Silic, Crom, chì… ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ. Vì vậy, rất nhiều gia đình đã phải bỏ nghề. Những nơi như làng Trà Đông – Thanh Hoá chỉ có 22 hộ trên hàng trăm hộ gia đình còn theo nghề đúc; hay như Xóm Chuông, thị trấn Long Đất, cả làng chỉ vỏn vẹn có 3 nhà còn nổi lửa lò đồng…

Trước thực trạng đó, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các làng nghề đúc đồng cũng đang tự cứu lấy mình bằng việc phát triển du lịch làng nghề, sáng tạo nhiều mẫu mã đa dạng, áp dụng các kỹ thuật hiện đại. Hiện nay, nhiều nơi đã sử dụng khuôn đúc bằng chất dẻo thay cho khuôn bằng đất nung nên giảm được nhiều công đoạn sản xuất. Với khuôn bằng chất dẻo, những người thợ có thể đúc được những bức tượng nhỏ chỉ bằng nửa ngón tay út nhưng vẫn hết sức sắc nét, đạt tính thẩm mỹ cao. Không những thế, việc liên kết giữa các doanh nghiệp tạo thành một hiệp hội đúc đồng cũng là một phương pháp khả thi nhằm tập hợp thế mạnh nội lực, tạo nhiều thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay, ở Huyện Ý Yên –
Nam Định đã có 43/60 doanh nghiệp đúc tham gia vào Hiệp hội Cơ khí Đúc Ý Yên. Từ khi Hiệp hội ra đời đã tạo nên những bước chuyển biến mới về chất lượng và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

Đúc đồng - một nghề thủ công truyền thống bình dị - đã đi suốt chiều dài của lịch sử dân tộc. Tiếng đồng âm vang, ấy là tiếng vọng từ trong hồn thiêng của đất, của nước, của một giá trị văn hóa đáng được trân trọng, gìn giữ. Và dù có nói đến bao nhiêu các biện pháp khôi phục và phát triển làng nghề đi nữa cũng chưa đủ nếu chưa nhắc đến chữ Tâm. Chính lòng yêu nghề, cái tâm với nghề của những người nghệ nhân đã làm cho tiếng chuông đồng đánh thức con Trâu Vàng năm xưa vẫn còn âm vang đến tận bây giờ./. 

Theo CPV

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác