Phát huy giá trị di sản thủ công mỹ nghệ Huế

Phát huy vị thế của hàng thủ công mỹ nghệ Huế tại hai kỳ Festival 2004, 2006 Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ TP Huế đã giới thiệu những sản phẩm độc đáo của cố đô qua Ngày hội tôn vinh hàng thủ công và sản phẩm văn hóa. Phải chăng chúng ta nên nhận thức rõ tiềm năng di sản thủ công mỹ nghệ Huế để khơi động giá trị này trong bối cảnh cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Xứ Huế từng nổi tiếng với nhiều sản phẩm, nhiều làng nghề thủ công như: đúc đồng Phường Ðúc, tranh gương Bao Vinh, sơn son thếp vàng Tiên Nộm, kim hoàn Kế Môn, chạm khắc gỗ Mỹ Xuyên... và đặc biệt là sự thể hiện tài năng trứ danh của đội ngũ thợ thủ công cả nước được trưng tập về các quan xưởng tại kinh đô Huế.

Xưa kia, với phương châm "mỗi người lính là một người thợ", Chúa Nguyễn rất chú trọng vai trò lính thợ trong nhu cầu kiến thiết quốc gia: hình thành hệ thống tượng cục tại thủ phủ Phú Xuân, thu hút và tác động trở lại các làng nghề thủ công vùng Huế.

Ðến thời nhà Nguyễn, chế độ công tượng được thực thi chặt chẽ đến cực đoan. Nhà nước định ngạch thợ thủ công trong cả nước để sẵn sàng trưng tập về làm việc trong các quan xưởng ở tỉnh thành, đặc biệt là ở kinh thành. Huế trở thành một đại công xưởng thu hút tinh hoa ngành nghề thủ công của cả nước.

Mặc dù đã có nhiều đóng góp đáng kể nhưng phải nghiêm túc thừa nhận rằng khả năng khai thác di sản thủ công mỹ nghệ Huế hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Trong phát triển du lịch, trùng tu và tôn tạo di tích chỉ là những hoạt động mang tính nền tảng. Ðiều đó là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây, di tích sẽ thiếu đi các hoạt động sống, phần hồn máu thịt, vốn có sức thu hút du khách rất lớn, nhất là các hoạt động có liên quan đến đời sống cung đình mà trong cả nước, chỉ còn Huế mới có khả năng tái hiện. Ðó chính là tính chất độc đáo, đặc trưng có một không hai của di sản thủ công mỹ nghệ Huế.

Nhưng, cũng bởi xuất phát từ tính chất cung đình đó mà các ngành nghề thủ công truyền thống Huế dường như thiếu sự năng động, nhạy bén trong cơ chế thị trường. Vấn đề đặt ra không phải là tay nghề, chất lượng sản phẩm mà chính là ở khâu tiếp thị, giới thiệu về mẫu mã sản phẩm. Người thợ đúc đồng Phường Ðúc, thợ chạm Mỹ Xuyên... có thể làm ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị nhưng ít được thị trường chấp nhận bởi tính dễ dãi của người tiêu dùng; hay như các sản phẩm diều của nghệ nhân Nguyễn Văn Bê cũng chỉ phù hợp cho các cuộc triển lãm, biểu diễn mà người mua thuần túy khó lòng chi trả một khoản quá lớn, thay vì một chi phí rất nhỏ để dễ dàng có được một sản phẩm của Sài Gòn. Hiện nhiều sản phẩm sơn mài, sơn son thếp vàng, tranh gương,... Huế cũng đang nằm trong một bối cảnh tương tự.

Người tiêu dùng, như trên đã đề cập là có chọn lọc, rất khó tính và luôn đòi hỏi nhu cầu có sản phẩm đặc thù và có chất lượng cao. Hiện nay, nhu cầu này ngày càng lớn và còn tùy thuộc khả năng thuyết minh, giới thiệu sản phẩm. Cũng là hai sản phẩm đúc đồng như nhau, nhưng mức giá lại chênh nhau đến 20 - 25 lần bởi xuất phát từ hai kỹ thuật khác nhau: đúc thuần túy và đúc khuôn sáp - một kỹ thuật đúc cổ truyền tinh xảo, đang có nguy cơ thất truyền. Người tiêu dùng dễ dãi sẽ không cần chú ý đến điều đó nhưng ngược lại sẽ là điều hấp dẫn đặc biệt khách hàng khó tính khi được giới thiệu một cách chi tiết.

Thực tế, nhiều sản phẩm có tính chất hoặc mang nguồn gốc "cung đình" đang là thế mạnh độc đáo mà chỉ Huế mới có khả năng phục hồi và phát triển, rất hấp dẫn đối với thị trường cao cấp. Dưới thời phong kiến, một sản phẩm thủ công ra đời tuân thủ quy trình khắt khe, chặt chẽ từ số lượng, thành phần, xuất xứ của nguyên liệu, các bước sản xuất, nghi lễ kèm theo điển chế. Do vậy mà giá trị lao động kết tinh ở đó là rất cao. Phải chăng Thừa Thiên - Huế nên có chính sách thu hút tinh hoa nghệ nhân cả nước để phục dựng lại nhiều ngành nghề thủ công trong các "quan xưởng thời nay".

Theo ND

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác