Quảng Nam: Nỗ lực bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng

Cùng với nỗ lực bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng (KGVHCC) các dân tộc miền núi Quảng Nam lâu nay, đã đến lúc tìm kiếm giải pháp tổng hợp trong bối cảnh đời sống xã hội, văn hóa, kinh tế ở miền núi đang có sự thay đổi lớn do địa phương đẩy nhanh tiến độ các dự án quan trọng.

Cồng chiêng dân tộc Co với vũ điệu Ka đấu.Cồng chiêng dân tộc Co với vũ điệu Ka đấu.

Ngày 25-11-2006, tại trụ sở UNESCO ở Paris (Pháp), danh sách 35 Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới đã được công bố, trong đó có KGVHCC Tây Nguyên của Việt Nam. KGVHCC Tây Nguyên bao trùm nhiều tỉnh Tây Nguyên, tập hợp 17 dân tộc thiểu số. Cồng chiêng là loại nhạc cụ phổ biến của cả vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên. Với các dân tộc đang sinh sống trên dải Trường Sơn nói chung, các dân tộc miền tây Quảng Nam (như Xê Đăng, Ca Dong, Giẻ - Triêng, Cơtu, Co...) nói riêng, cồng chiêng luôn giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật và đời sống tâm linh. Cồng chiêng trở thành âm thanh, giai điệu chủ đạo trong các sinh hoạt lễ hội truyền thống, là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu giữa con người, thần thánh và thế giới siêu nhiên.

KGVHCC bao gồm nhiều yếu tố hợp thành. Không gian đó được ra đời, tồn tại trên một cơ sở môi trường sinh thái, nhân văn rộng lớn, bao gồm buôn, làng, bến nước, đất canh tác, khu rừng gắn với cộng đồng, khu nhà mồ... Đặc điểm của cồng chiêng là gắn bó, mang đậm yếu tố rừng núi, tạo nên diện mạo văn hóa rừng. Mất rừng là mất văn hóa, không có KGVHCC. Từ không gian này, hằng năm cộng đồng các dân tộc bản địa Tây Nguyên tổ chức các nghi lễ - lễ hội nông nghiệp, trong đó có nghi thức diễn tấu cồng chiêng để cúng thần linh và sinh hoạt cộng đồng. Những lễ hội cộng đồng thường được diễn ra tại ngôi nhà làng truyền thống, nơi chứa đựng những tinh hoa văn hóa tộc người như điêu khắc, hội họa, các loại hình diễn xướng dân gian... Nét độc đáo trong trang phục, trang sức truyền thống dân tộc là sắc màu tô điểm cho bức tranh KGVHCC.

Từ khi được tôn vinh là di sản thế giới, nhiều tỉnh đã đầu tư hàng tỷ đồng để bảo tồn KGVHCC. Để đạt được kết quả như mong muốn, cần có cái nhìn tổng thể về KGVHCC. Để bảo tồn được cồng chiêng, không chỉ mua sắm, trang bị lại các dàn, các bộ chiêng, mở lớp dạy đánh chiêng... mà cần phải tạo dựng, giữ vững môi trường sống của cồng chiêng - đó chính là KGVHCC. Nếu bảo tồn được KGVHCC thì cồng chiêng mới tồn tại và phát huy có hiệu quả trong cộng đồng.

Những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI là giai đoạn đầy biến động về mặt văn hóa ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số do tác động khách quan, tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, phân bố lại dân cư, giao lưu, hội nhập... Sự biến đổi đó diễn ra càng rõ nét hơn bởi những tác động thường xuyên của việc thực hiện, triển khai chính sách phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước đối với miền núi và vùng đồng bào thiểu số. Cuộc sống của đồng bào đổi thay nhiều hay ít tùy theo mức độ, qui mô đầu tư của Nhà nước và sự phát huy, hiệu quả của các dự án. Các chương trình định canh định cư, tái định cư xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, thủy điện, các chương trình đầu tư, phát triển miền núi (như 135, 134), chương trình kiên cố hóa nhà ở, xóa bỏ những ngôi nhà tạm tranh, tre, nứa, lá... đã làm thay đổi căn bản về điều kiện sản xuất, sinh hoạt, cư trú, môi trường sống, môi trường sinh thái ở miền núi. Theo như quy hoạch hệ thống thủy điện bậc thang sông Vu Gia - Thu Bồn với 8 công trình thủy điện lớn và 38 công trình thủy điện vừa và nhỏ, thì từ nay đến 2015, dự báo sẽ có 38.000 người dân chịu ảnh hưởng và phải tái định cư cho hơn 8.500 người. Số làng dân tộc phải di dời để tái định cư sẽ tới con số vài chục. Yêu cầu bức thiết đặt ra trong thời gian đến là làm sao để đồng bào di dời, “an cư lạc nghiệp” mà không đánh mất những giá trị văn hóa làng như lễ hội, nghề dệt, trang phục, nhà cửa, những tập quán tốt đẹp của mỗi dân tộc, không đánh mất môi trường làm nên KGVHCC.

Trong bối cảnh ấy, cần phải làm thế nào để các tộc người vừa tiếp tục bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống riêng của mình, đồng thời vẫn đảm bảo cho họ tiếp cận và phát triển hài hòa với đời sống mới, đó chính là mục tiêu đặt ra cho sự nghiệp phát triển văn hóa của tỉnh. Tại hội thảo khoa học “KGVHCC các dân tộc thiểu số Quảng Nam” mới đây, các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng có sự tồn tại KGVHCC các dân tộc miền núi Quảng Nam. Không gian đó phản ánh nét đặc thù của tiểu vùng văn hóa Trường Sơn. Điều đáng nói là trong khi ở địa bàn Tây Nguyên, cái nôi của âm nhạc cồng chiêng, từ lâu đã diễn ra hiện tượng “chảy máu” cồng chiêng thì ở miền núi Quảng Nam chưa thấy xuất hiện nguy cơ này. Nền nhạc cồng chiêng của đồng bào còn giữ nhiều yếu tố nguyên gốc, không thể thiếu vắng trong các lễ hội. Cùng với trống, cồng chiêng chính là giai điệu, nhịp điệu của múa dân gian... Tuy nhiên, việc phân bố cồng chiêng hiện không đồng đều giữa các dân tộc. Vai trò của cồng chiêng cũng không còn quan trọng trong đời sống, không còn là “vật gia bảo” như trước đây...

Việc bảo tồn KGVHCC các dân tộc miền núi Quảng Nam có ý nghĩa vô cùng to lớn. Bởi vì đây là một hiện tượng văn hóa có liên quan, gắn kết nhiều yếu tố, từ môi trường tự nhiên đến môi trường xã hội. Chính tác động nhiều chiều đó sẽ mở ra nhiều triển vọng, động lực cho phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 
Theo BQN

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác