Sân khấu bài chòi cần được bảo tồn

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc độc đáo của người dân vùng Nam Trung Bộ. Nguồn gốc của bài chòi là sự phát triển từ một trò diễn xướng dân gian rất đặc biệt và vui nhộn. Đó là chơi đánh bài chòi.

Đánh bài chòi là một trò chơi dân gian rất lôi cuốn và hấp dẫn đối với nhân dân lao động. Trò chơi thường được tổ chức vào những dịp hội hè, lễ tết. Hình thức đánh bài chòi vô cùng đơn giản, không mang tính ăn thua mà chủ yếu là để mua vui cho lễ hội. Không gian chơi bài chòi được xây dựng như một sân khấu lớn, bao gồm chín chòi con dành cho người chơi và một chòi trung tâm dành cho người quản trò. Người quản trò sẽ điều khiển suốt cuộc chơi, thường được gọi là anh “Hiệu”. Muốn cuộc chơi hấp dẫn được người chơi và người xem thì anh “Hiệu” phải là người có khả năng diễn xuất và ứng đối tốt. Điều đó đòi hỏi anh “Hiệu” phải có một nguồn vốn dồi dào những bài dân ca, ca dao hoặc điệu hát dân gian để dẫn trò và mua vui cho cuộc chơi. Những câu bài chòi cổ còn được lưu truyền đến ngày nay có nội dung chủ yếu là đả kích thói hư tật xấu, phản ánh sự bất công của xã hội phong kiến, đồng thời ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tình cảm lứa đôi, tình cảm con người, lòng thủy chung và tâm tư của nhân dân trước cuộc sống hai sương một nắng.

Chính vì sự kết hợp hài hòa giữa người chơi và người quản trò nên để có một cuộc chơi thật vui thì có nghĩa là cuộc chơi là cả một sự sáng tạo. Ở đó vừa có tình huống, vừa có ứng đối, vừa theo kịch bản lại vừa phải diễn xuất cho nên hình thức diễn xướng bài chòi rất thu hút các tầng lớp khán giả. Điều đó lý giải vì sao bài chòi lại giữ một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn nghệ của người dân Nam Trung Bộ một thời gian dài và lưu truyền rộng rãi trong dân gian.

Chính vì bài chòi có những yếu tố mang đậm tính sân khấu nên các nghệ nhân bài chòi đã phát triển dần lên và trở thành một loại hình sân khấu thực thụ. Đó là cả một quá trình dài, từ chỗ một bài ca nhỏ đến những câu chuyện ngắn và cuối cùng là một vở ca kịch hoàn chỉnh. Thực ra, bài chòi không có nhiều làn điệu như một số loại hình ca kịch dân tộc khác, chủ yếu dựa vào bốn làn điệu cơ bản là: Xuân Nữ, Xàng Xê, Cổ Bản và Hò Quảng, nhưng các nghệ sĩ bài chòi đã sử dụng các làn điệu đó một cách rất hiệu quả. Ngoài ra còn cải biên, biến tấu, mô phỏng, khai thác kho tàng các làn điệu dân gian như hò, lý, hát hố, hát kết, chèo đưa linh, sắc bùa… nên bài chòi trở nên gần gũi và dễ chiếm được cảm tình của người nghe. Những năm 50, 60, 70 và 80 của thế kỷ 20 là những năm mà bài chòi đánh dấu sự phát triển đỉnh cao bằng cách “làm mưa làm gió” trên các sân khấu của miền Bắc. Các vở bài chòi như: Thoại Khanh-Châu Tuấn, Phạm Công-Cúc Hoa, Tiếng sấm Tây Nguyên… đã được công chúng nồng nhiệt đón nhận và yêu mến. Có đoàn ca kịch bài chòi còn đứng ở tốp dẫn đầu về doanh thu cùng với một số đoàn sân khấu chuyên nghiệp khác trong nhiều năm liền. Điển hình là đoàn ca kịch bài chòi Liên khu 5. Có vở diễn được biểu diễn hàng trăm lần mà vẫn còn thu hút khán giả.

Thế nhưng, “bữa tiệc vui nào cũng có lúc tàn”, trước những chuyển mình to lớn của đất nước, kèm theo đó là sự bùng nổ ồ ạt của các loại hình thông tin, văn hóa, nghệ thuật và giải trí, món ăn lạ miệng bài chòi không còn được khán giả đón nhận nồng nhiệt như trước nữa. Nghệ thuật ca kịch bài chòi trưởng thành trong sự yêu mến của khán giả nhưng không theo kịp thị hiếu của khán giả nên đành dẫm chân tại chỗ. Đáng buồn tiếc hơn, bài chòi đã trở nên xa lạ với những khán giả trẻ tuổi. Cũng dễ hiểu bởi ca kịch bài chòi không phải là dễ nghe, dễ tiếp thu.

Trước những nguy cơ mai một môn nghệ thuật cổ truyền, rất nhiều những cuộc liên hoan, rồi cả hội thảo khoa học đã được tổ chức để tìm kiếm giải pháp đưa bài chòi trở lại vị trí mà nó từng có. Thậm chí đầu năm 1991, những người tâm huyết bài chòi đã kiến nghị với Bộ Văn hóa cho thành lập “Trung tâm nghiên cứu và Ban liên lạc ca kịch bài chòi toàn miền Trung”, nhưng rốt cuộc mọi kế hoạch chỉ là “lời nói gió bay”. Ngay cả đến những nghệ sĩ đã từng sống với bài chòi một thuở cũng không tránh khỏi những dao động trước sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế thị trường. Nhiều đoàn ca kịch bài chòi nhanh chóng bị giải thể, hoặc nếu tồn tại thì phải xoay xở phục vụ lấn sang các môn nghệ thuật khác. Những buổi biểu diễn lưu động họa hoằn phải trông chờ vào nguồn kinh phí ít ỏi của chính quyền và sự ủng hộ của bà con nhân dân yêu mến bài chòi. Các sáng tác kịch bản, đội ngũ giảng dạy, các nghệ sĩ bài chòi ngày càng thưa dần.

Nguyên nhân để nghệ thuật bài chòi trở nên im hơi lặng tiếng không thể nói trong một vài điều. Những vấn đề đang tồn tại cũng chưa thể giải quyết trong ngày một ngày hai, cho nên những ai đã từng biết và yêu thích thể loại ca kịch dân tộc này chắc sẽ nuối tiếc rất nhiều. Câu hỏi hóc búa đã được đặt ra là liệu bài chòi có phát triển được nữa không và nếu phát triển tiếp thì sẽ đi về đâu vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Sự thật thì những làn điệu dân ca bài chòi vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân, âm hưởng của bài chòi không dễ làm người ta quên lãng. Bởi lẽ, bài chòi là kết quả của cả một quá trình sáng tạo phát triển truyền thống yêu thích ca hát, vui chơi của nhân dân lao động nói chung và nhân dân Nam Trung Bộ nói riêng. Nói cách khác đi tức là bài chòi là kết tinh của cả một nền văn nghệ dân gian. Chính vì những lý do đó những người yêu thích bài chòi vẫn có quyền hy vọng một ngày nào đó bài chòi sẽ trở lại và tiến xa hơn chứ không phải là “chiếc cầu vồng trước cơn mưa” như mọi người đã từng ví.

(Theo QĐND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác