Thanh Hoá: Trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa nhìn từ góc độ xã hội hóa

Điều đáng mừng là những năm gần đây công tác xã hội hóa việc bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa đang được người dân trong tỉnh hưởng ứng nhiệt tình, góp phần quan trọng giữ gìn và phát huy những giá trị đích thực, tiềm ẩn những “thông điệp của quá khứ”.

Xứ Thanh là tỉnh đất rộng, người đông, có bề dày lịch sử và là vùng có nền văn hóa truyền thống lâu đời. Vùng đất này đã để lại những di sản văn hóa cực kỳ quý giá, trong đó, di sản văn hóa vật thể giữ vị trí quan trọng và tồn tại dưới các dạng thức phong phú. Toàn tỉnh hiện có 1.535 di tích, danh thắng, trong đó 138 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 370 di tích xếp hạng cấp tỉnh, với nhiều loại hình: khảo cổ học, lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.

Trước đây, công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các di tích chỉ trông chờ vào nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa và nguồn kinh phí ít ỏi của ngân sách địa phương. Do vậy, số di tích được trùng tu, tôn tạo cũng chỉ dừng lại ở mức độ sửa chữa, chống xuống cấp tạm thời. Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống nhân dân được nâng lên, các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa cũng được chú trọng hơn. Ngày 21-8-1997, Chính phủ đã ra nghị quyết về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và văn hóa. Mặc dù vậy, phải đến năm 2001, khi Luật Di sản văn hóa được ban hành thì công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở tỉnh ta mới thực sự khởi sắc và bước đầu thu được hiệu quả. Công tác trùng tu, tôn tạo các di tích, ngoài Lam Kinh là một di tích đặc biệt quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho trùng tu tôn tạo từ năm 1995, hàng năm, Bộ Văn hóa - Thông tin (VHTT) và UBND tỉnh cấp hàng tỷ đồng để chống xuống cấp cho hàng loạt các di tích. Một số di tích được trùng tu, tôn tạo bảo đảm chất lượng trong thời gian qua như: Thái miếu nhà Lê (thành phố Thanh Hóa), đình Gia Miêu (Hà Trung), đình Phú Điền (Hậu Lộc). Bên cạnh nguồn kinh phí của Nhà nước, phong trào xã hội hóa việc bảo vệ, trùng tu, tôn tạo các di tích trên địa bàn toàn tỉnh đã được phát động rộng khắp và bước đầu thu được kết quả như: Chùa Long Cảm, đền thờ Hàn Sơn (Hà Trung), đền Sòng (thị xã Bỉm Sơn), đền thờ Tô Hiến Thành (Hoằng Hóa), đền thờ thần Độc Cước (thị xã Sầm Sơn)... từng bước thực hiện việc bảo quản, tu sửa, tôn tạo bằng nguồn kinh phí đóng góp của nhân dân là chủ yếu.

Anh Viên Đình Lưu,  Trưởng Ban Quản lý di tích - danh thắng của tỉnh, cho biết: Hàng năm kinh phí do tỉnh cấp hơn  1 tỷ đồng, còn mức huy động từ các nguồn trong dân từ 6 đến 7 tỷ đồng. Ví như năm 2006, di tích đền thờ Trần Nhật Duật (Quảng Xương) được xây dựng,  khôi phục, bảo quản, bằng sự phối hợp giữa nguồn kinh phí hỗ trợ của tỉnh và địa phương, trong đó huyện và xã đầu tư kinh phí lên gấp hàng chục lần. Năm 2007, kinh phí hỗ trợ chống xuống cấp các di tích lịch sử - văn hóa trong tỉnh từ nguồn kinh phí sự nghiệp văn hóa cấp là một tỷ đồng cho 19 di tích, hiện Ban Quản lý di tích - danh thắng của tỉnh đã lập xong dự toán, với mức huy động thêm 10 tỷ đồng là có tính khả thi. Trong đó có những di tích lịch sử - văn hóa như chùa Báo Ân (Vĩnh Lộc) có kế hoạch sửa chữa, nâng cấp di tích và chỉnh trang khuôn viên với dự toán kinh phí   lên tới vài trăm triệu đồng cũng do nhân dân đóng góp. Đi đôi với việc xã hội hóa về trùng tu, tôn tạo di tích thì tại một số di tích, nhân dân đã bầu ra ban quản lý, ban trị sự, tổ bảo vệ di tích với thành phần là những người có uy tín ở địa phương nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, trùng tu, sửa chữa, tổ chức lễ hội và đón khách tham quan. Tuy nhiên hạn chế lớn nhất trong  những năm qua là do việc trùng tu, tôn tạo di tích có lúc, có nơi còn nóng vội, trình độ năng lực quản lý của địa phương hạn chế không nắm vững những quy định trong  Luật Di sản hoặc cố tình “phớt lờ” làm trái quy định của luật, dẫn đến các vi phạm và kết quả không được như mong muốn. Có những di tích sau trùng tu lại bị biến dạng và mất mát nhiều hơn về giá trị lịch sử - văn hóa đích thực của nó. Theo anh Lưu: Xã hội hóa công tác bảo tồn di tích không có nghĩa ai cũng có thể can thiệp vào di tích. Hơn lúc nào hết các địa phương, các ngành chức năng cần nâng cao nhận thức xã hội của cộng đồng về ý thức bảo tồn các di tích cũng như hiểu biết về ý nghĩa giá trị của nó. Xây dựng một kế hoạch chiến lược tầm quốc gia để nghiên cứu, tôn tạo, bảo tồn kể cả phục dựng lại những di tích có giá trị về mặt văn hóa, lịch sử.

Thực tế từ một số quốc gia, Nhà nước dù có đầu tư tài chính nhiều đến mức nào cũng không thể tự mình gìn giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa nếu không có sự phối hợp chặt chẽ với nhân dân địa phương nơi có di sản. Trong những năm qua, ngành VHTT tỉnh đã từng bước phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xã hội hóa công tác bảo vệ, trùng tu, tôn tạo di tích. Tăng cường đầu tư cho văn hóa từ ngân sách Trung ương và địa phương để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; vận dụng tối đa các điều kiện cho phép của các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Di sản văn hóa... để mở rộng và đa dạng các hình thức xã hội hóa các hoạt động văn hóa của các thành phần kinh tế. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và từng bước thực hiện cơ chế chính sách đồng bộ về xã hội hóa theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Trong những năm tiếp theo, Ban Quản lý di tích - danh thắng sẽ phối hợp tích cực hơn nữa với các địa phương, nhân dân nơi có di tích để công tác xã hội hóa bảo vệ, trùng tu, tôn tạo di tích đạt những kết quả cao hơn.

(Theo THO)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác