Thanh Hoá: Xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Cùng với sự đa dạng về tài nguyên thổ nhưỡng, khí hậu, những ngọn núi, con sông tự nhiên ở xứ Thanh đã tạc nên những danh thắng nổi tiếng; mỗi thôn làng đều gắn với những truyền thuyết, huyền thoại, in đậm những dấu tích lịch sử, được lắng đọng qua một khối lượng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đồ sộ, như Lam Kinh, thành Nhà Hồ, cầu Hàm Rồng- Đông Sơn.

Thanh Hoá: Xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa - ảnh 1

Các khu danh lam thắng cảnh, Sầm Sơn, Vườn quốc gia Bến En, suối cá Cẩm Lương, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Pù Hu; hệ thống hang động: Từ Thức, Hồ Công, Tiên Sơn..., xứ Thanh còn có một khối lượng di sản văn hóa phi vật thể độc đáo, mang sắc thái riêng của 7 dân tộc anh em với 160 lễ hội truyền thống đặc sắc liên quan đến di tích lịch sử, danh thắng được Nhà nước công nhận, như Lễ hội Lam Kinh, Mai An Tiêm, ... 50 lễ hội liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo như Cầu Ngư, Bánh chưng bánh dầy,.. là nét văn hóa đặc trưng, là linh hồn của người dân xứ Thanh. Với những sinh hoạt văn hóa dân gian, phương thức canh tác nông nghiệp đặc thù đã sản sinh ra các làn điệu dân ca, dân vũ, trò diễn xướng dân gian, hoạt động tín ngưỡng truyền thống như dân ca Đông Anh, trò Xuân Phả, hát Nhà trò Văn Trinh, múa Rùa, múa Chuông của dân tộc Dao; các trò diễn Kin Chiêng Boọc Mạy,  khua luống của dân tộc Thái; Pồn Poong, Xéc Bùa, Xường Rang của dân tộc Mường...

Ông Viên Đình Lưu, Trưởng phòng Quản lý Di sản văn hóa, Sở VH,TT&DL tỉnh cho biết:  Với nhiều hình thức tuyên truyền về Luật Di sản văn hóa  và các văn bản pháp quy liên quan của  ngành VH,TT&DL đã góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, chủ động bảo vệ, gìn giữ, khai thác vốn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể ở các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân.  Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 146  di tích, cụm di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 511 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Sự tham gia của nhân dân ở cơ sở, nhất là những người am hiểu lịch sử, văn hóa cổ truyền giúp cho việc lập bộ hồ sơ khoa học do cán bộ chuyên môn đảm nhiệm được thuận lợi. Một số nơi xảy ra tình trạng mất mát di vật, cổ vật, đào bới trái phép di chỉ khảo cổ học là do chính quyền chưa làm tốt công tác tuyên truyền tới nhân dân. Cho đến nay, hầu hết xã, phường, thị trấn của tỉnh đều thành lập ban quản lý di tích, đa số di tích tôn giáo đều có người trông coi, bảo vệ. Vốn văn hóa dân gian, dân tộc, y dược học cổ truyền, thể thao dân tộc... được các dòng họ và nhiều người dân trân trọng giữ gìn và lưu truyền cho thế hệ con cháu. Có thể kể ra nhiều tấm gương như nghệ nhân Ngô Trọng Bình (TP Thanh Hóa) mặc dù đã hơn 80 tuổi vẫn tận tình truyền dạy hát ca trù cho các hội viên câu lạc bộ ca trù thành phố;  thầy giáo Lê Mai Bửu, xã Hoằng Trạch (Hoằng Hóa) đã về hưu vẫn miệt mài lăn lộn khắp các thôn, xóm sưu tầm, lưu giữ gần 600 cuốn sách cổ; anh Thiều Quang Tùng ở xã Đông Tiến (Đông Sơn ), tuy gia đình gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn dành tiền học nghề, thực hiện hoài bão khôi phục lại nghề đúc trống đồng của quê hương đang có nguy cơ thất truyền, v.v... Các câu lạc bộ đàn hát dân ca và chèo đã trở thành phong trào ở nhiều nơi, thu hút nhiều lứa tuổi tham gia tập luyện, biểu diễn, như câu lạc bộ dân ca Đông Anh (Đông Sơn), chiếu chèo Phượng Mao, Hoằng Phượng (Hoằng Hóa), chiếu chèo Tế Thắng (Nông Cống)...

Xã hội hóa việc tu bổ, tôn tạo di tích là nét nổi bật trên địa bàn tỉnh trong những năm qua, được biểu hiện ở hai điểm. Một là, nhân dân và các tổ chức kinh tế, xã hội tự nguyện đóng góp toàn bộ tiền của, ngày công để tu bổ tôn tạo di tích, bao gồm di tích chưa được Nhà nước xếp hạng và di tích đã được xếp hạng. Hai là, nhân dân đóng góp nhân lực, vật lực, kinh phí khi ngành VH,TT&DL tu bổ, tôn tạo di tích theo chương trình mục tiêu quốc gia. Chỉ tính trong 2 năm trở lại đây, số kinh phí đóng góp của nhân dân đã lên tới hàng trăm tỷ đồng, tu bổ, tôn tạo trên 200 ngôi đền, đình làng, nhà từ đường của dòng họ. Với số lượng di tích nhiều, ngân sách Trung ương và tỉnh đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích còn hạn chế thì sự vận động nhân dân đóng góp kinh phí đã góp phần có hiệu quả ngăn chặn tình trạng xuống cấp của di tích. Trên 200 lễ hội vùng và lễ hội làng đã được khôi phục trong thời gian qua phần lớn là do công sức của nhân dân sở tại. Nhờ lễ hội phục hồi mà vốn văn hóa dân gian, dân tộc được khơi dậy, trong đó có những tinh hoa làm phong phú hơn đời sống văn hóa ở cơ sở. Thực hiện chủ trương xã hội hóa, tỉnh đã có những chủ trương, chính sách thích hợp để vực dậy các làng nghề theo phương châm mỗi làng, mỗi nhà chủ động tìm cách giữ nghề, phát triển nghề của làng mình, nhà mình, đồng thời mở thêm nghề mới. Chính nhờ sự tích cực từ cả hai phía Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhiều làng nghề truyền thống đã trụ vững và đi lên, như làng nghề đan lát Quảng Phong (Quảng Xương); nghề mộc Đạt Tài, Hoằng Đạt (Hoằng Hóa); nghề rèn Tất Tác (Hậu Lộc); làng nghề đúc đồng Trà Đông... Tuy nhiên,  bên cạnh những yếu tố tích cực ở một số địa phương khác do không nắm vững Luật Di sản văn hóa và các quy định của pháp luật, thiếu năng lực chuyện môn, sự nôn nóng vội vã trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản, nên đã không thực hiện đúng quy trình, giảm giá trị của di sản.

Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mỗi con người. Trong thời gian tới, đi đôi với việc đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; tiếp tục tiến hành điều tra, nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể cấp thiết cần được bảo tồn, như: bảo lưu ngôn ngữ, nhạc cụ cồng chiêng; khôi phục lại các trò chơi, trò diễn, dân ca, dân vũ... tăng cường công tác tuyên truyền đến các cấp, các ngành và cán bộ, nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa...

 

Theo THO

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác