Tìm lại hai khúc hát cổ nhất của ca trù

Non mai và Hồng hạnh là hai khúc hát cổ nhất của ca trù mà trước đây các nhà nghiên cứu đều khẳng định là đã thất truyền. Đó là hai trong 9 khúc hát giáo phường dùng trong lễ tế tổ ca trù.

Biểu diễn ca trù.Biểu diễn ca trù.

Tương truyền hai khúc hát này do Đức tổ bà Bạch Hoa công chúa đặt ra để tưởng nhớ chồng, và chỉ sử dụng duy nhất trong lễ tế tổ nghề mà không bao giờ dùng trong các đền miếu khác.Hàng năm đến ngày giỗ tổ, các giáo phường làm lễ tế tổ là Bạch Hoa Công chúa và Thanh Xà đại vương. Chỉ những người vững nghề và có đức hạnh tuyển từ các phường mới được vào hát thờ tổ. Hát thờ tổ khác lối hát cửa đình ở chỗ có hai khúc Non mai, Hồng hạnh, tương truyền chính bà Bạch Hoa Công chúa đã làm ra để tưởng nhớ đến chồng bà. Vì thế đào nương chỉ dành khi hát tế tổ mới hát, ngoài ra không bao giờ hát khúc ở đền miếu khác và cũng không dám hát cho ai nghe.

Người xưa kể lại rằng, đức Thanh Xà đại vương vốn được các vị tiên dạy cho cách làm đàn và chơi đàn đáy. Vì tiếng đàn mà kết duyên vợ chồng cùng nàng Bạch Hoa công chúa. Tiếng đàn đáy của đại vương đã cứu biết bao nhiêu dân lành thoát khỏi những căn bệnh hiểm nghèo. Nhưng rồi một ngày kia, đất nước gặp nạn binh đao, đức đại vương phải cầm quân đi dẹp giặc cứu nước. Người vợ hiền thảo ở nhà nhớ thương chồng bèn làm ra hai khúc Non mai và Hồng hạnh. Và rồi sau khi mất đi, họ đã được tôn làm tổ của ca trù

Non mai rạng  lĩnh canh ba
Cành mai sơ chiếng nở ra một chùm...

Các nhà nghiên cứu trước đây cho biết khúc hát Non mai đã thất truyền, chỉ biết được hai câu thơ trên. Sau nhiều công phu lần tìm trong sách cổ của Viện Hán Nôm chúng tôi may mắn tìm hai văn bản chép hai khúc Non mai và Hồng hạnh. Non mai là lấy hai chữ đầu tiên trong khúc hát thờ tổ để đặt tên cho cả khúc hát. Lời thơ bài này có 4 đoạn, mỗi đoạn có một ý nghĩa riêng, lần lượt 3 đoạn đầu tả vẻ đẹp và ca ngợi “đức” của mai, trúc, tùng có tiết tháo của bậc quân tử đem tài cao chí lớn, giúp nước giúp vua.

Bài thơ ca ngợi hoa mai có vẻ đẹp thanh khiết và cao quý như phẩm chất của quan Ngự sử trong triều. Sau đó nhắc chuyện khi một vị tướng hành quân, quân sĩ khát nước, ông liền chỉ về dãy núi phía trước nói là sắp tới một rừng mai. Quân lính nhờ thế mà đã đỡ được cơn khát.

...Ngự sử nhà truyền cốt cách
Trận khi giải khát trợ tam quân
Danh xưng Ngự sử truyền thanh bạch

Rồi điển tích vua Cao Tông nhà Thương tìm gặp được Phó Duyệt ở đất Phó Nghiêm, tôn ông làm tướng, cho ở bên cạnh. Cao Tông nói với Phó Duyệt: “Nhà ngươi phải dạy dỗ cho chí ta được suốt mọi việc. Nếu có nấu rượu ngọt, nhà ngươi là men rượu. Nếu có làm việc nêm canh, nhà ngươi là muối là mơ”. Ở đây chỉ vai trò của kẻ sĩ giúp vua sửa sang việc nước, cũng ví như chất chua của mai trong khi nấu canh vậy.

...Non cao Thứu Lĩnh thanh tân
Có thuở điều canh phù chín vạc

Rồi chuyện Lâm Bô đời Tống, mồ côi từ bé, rất chăm học, tính điềm đạm, không cầu danh lợi, ẩn ở núi Cô Sơn, hai mươi năm trời chân không bước tới thị thành. Ông vẽ đẹp, chữ tốt, thơ hay, thơ làm xong là bỏ đi, không muốn truyền lại. Ông không lấy vợ, chỉ trồng mai và nuôi hạc làm bạn. Người đời bấy giờ cho rằng ông lấy mai làm vợ, hạc làm con (mai thê hạc tử). Và chuyện ngày xưa kỳ thi Hội chọn lấy đỗ Tiến sĩ được tổ chức vào mùa xuân, cùng với dịp hoa mai nở. Bảng ghi tên những người thi đỗ vì thế gọi là bảng mai, hoặc bảng xuân.

Danh xưng Ngự sử truyền thanh bạch
Thỏa chí nam nhi chiếm bảng xuân

Sau mai là trúc. Với hình ảnh khu rừng trúc Kỳ Viên ở nước Vệ, có nhiều loài trúc quý. Rồi giống trúc quý ở Giang Lăng là miền đất thuộc tỉnh Hồ Bắc cao đến vài trượng, ruột rỗng, đầu mắt có ngấn như vòng, lá nhọn như mũi tên. Sau trúc là tùng, với điển tích Tần Thủy Hoàng lên núi Thái Sơn làm lễ phong thiện, gặp mưa to trú nấp dưới gốc cây thông. Qua cơn mưa ông phong cho cây thông là Ngũ Đại phu.

Bài thơ này gián tiếp có nội dung ca ngợi vị tổ ca trù là bậc quân tử thanh cao, đem tài giúp nước. Đoạn cuối cùng trong bài thơ chúc mừng dân làng được vinh hoa sang giầu; Sĩ thì chiếm bảng vàng khôi khoa, Nông thì thóc lúa đầy nhà, Công thì ngày càng thêm khéo léo, Thương thì thu nhiều vàng bạc.

Như vậy, Non mai và Hồng hạnh có thể xem là ca từ của một trong những làn điệu cổ nhất trong ca trù. Các nghệ nhân, nghệ sĩ ca trù hiện nay còn sống cũng không ai biết hát hai khúc hát này. Gần đây chúng tôi có hỏi chuyện những người trong giới ca trù thì không có ai biết được gì về hai khúc hát này.

May thay, theo lời kể của ông Nguyễn Văn Mùi (con trai cụ Trưởng Xuân, ấp Thái Hà) thì vào khoảng giữa thập kỷ 50 (thế kỷ 20) có một số học giả Liên Xô đã tới Việt Nam để tìm hiểu về cổ nhạc và có đề nghị thu âm hai bài hát Non mai và Hồng hạnh. Vì các đào hát không bao giờ dám hát cho ai nghe bài này, nên để ghi âm được hai khúc hát các chuyên gia âm nhạc đã phải phục dựng một lễ tổ. Và, rất tự nhiên, bà Châu Doanh Đinh Thị Hảo tay cầm lá phách đã thành kính dâng trước điện thờ hai khúc hát thờ.

Hai điệu hát thờ Non mai, Hồng hạnh do bà Châu Doanh hát, ông Nguyễn Văn Xuân (ông Trưởng Xuân) đàn, ông Trần Ngọc Tuất điểm trống. Tuy nhiên do kỹ thuật thu âm lúc đó chưa tốt, nên nghe không rõ lời. Nếu không kết hợp với các lời ghi trong sách cổ thì không thể học hát được bài hát này. Đấy là tiếng hát Non mai và Hồng hạnh duy nhất còn lại hiện nay, nhờ vậy chúng ta mới có thể biết được lề lối của hai điệu hát này.

Được biết, sau khi văn bản và băng ghi âm của hai khúc Non Mai và Hồng hạnh được gửi đến các nhóm ca trù ở Hà Nội thì đã có một số đào nương tập hát bài Non mai. Mong sao một ngày kia (có thể là dịp UNESCO vinh danh ca trù là kiệt tác của nhân loại) thì khúc hát này lại vang lên trong một dịp tế tổ ở Lỗ Khê, để tưởng nhớ đến các vị tổ đã đem khúc nhạc ca trù từ nơi tiên giới xuống giữa trần gian.

Theo Nhân dân

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác