Tu bổ làm biến dạng di tích

"Đau xót", đó là câu đầu tiên nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Lâm Biền nói về việc các di sản văn hóa ngày nay đang bị làm biến dạng cùng quá trình tu bổ. Mấy chục năm nghiên cứu văn hóa dân gian, ông chứng kiến nhiều sự "tu bổ" thiếu kiến thức có tác hại còn hơn cả phá hoại...

- Mới đây, Cục Di sản văn hóa - Bộ Văn hóa - Thông tin đã buộc Ban Quản lý Khu Di tích chùa Dâu (Bắc Ninh) ngừng việc xây dựng cổng chùa Dâu do công trình này làm biến dạng khu di tích, vi phạm nghiêm trọng Luật Di sản. Trên thực tế, không chỉ ở chùa Dâu, vấn đề di tích bị biến dạng sau khi tu bổ đã xảy ra ở rất nhiều nơi. Với tư cách là một nhà nghiên cứu, ông có thể cho biết tầm quan trọng của việc gìn giữ nguyên trạng di tích khi tu bổ, tôn tạo?

Ông Trần Lâm Biền: Giả thử tôi có một ông bố bị ốm, tôi đưa bố đi bác sỹ, ông bác sĩ "giết" bố tôi đi và đưa cho tôi một ông già khác, khỏe mạnh hơn, đẹp lão hơn và bảo tôi gọi bằng bố và tôi có trách nhiệm phụng dưỡng ông già ấy. Làm sao có thể chấp nhận gọi một ông già khác làm bố, cho dù ông ấy khỏe mạnh hơn, đẹp lão hơn.

Vấn đề di tích cũng thế. Di sản văn hóa là cái gì? Di sản văn hóa là con đẻ của văn hóa dân tộc, là sản phẩm gắn với lịch sử và xã hội một cách rõ rệt nhất.

Nếu dựa vào văn bản, sách sử để tìm về quá khứ, thì chúng ta mới chỉ nắm được tinh thần của lịch sử, của xã hội thông qua con mắt của một người chép văn bản nào đó. Còn di sản là cái thực thể tồn tại.

Mỗi di sản văn hóa đều "cõng" trên mình nó những ý nghĩa lớn hơn cái mà chúng ta nhìn thấy.

Ví như thời Lý - Trần, nhiều hiện vật còn lại ngày nay đều tồn tại ở dạng nguyên khối, trong khi đó ở thời Mạc, những con rồng hay nhiều hiện vật khác không tồn tại ở dạng nguyên khối mà được lắp ghép.

Vì sao có hiện tượng ấy? Điều đó cho ta biết rằng, thời Mạc, thông thương đã phát triển và người ta chia nhỏ ra để dễ vận chuyển.

Mỗi di sản đều tiêu biểu cho một thời đại đã qua của cha ông chúng ta, phản ánh tình hình kinh tế - xã hội, những biến động lịch sử của thời đại đó.

Vấn đề bảo tồn nguyên trạng di tích là gìn giữ thông điệp của cha ông chúng ta. Trên cái nền tảng ấy, những người nghiên cứu chúng tôi hiểu được từng bước đi của văn hóa dân tộc.

Muốn trả lời người Việt Nam là ai, các nhà nhân chủng học không gặp khó khăn gì, nhưng xét về văn hóa, điều đó chỉ có thể trả lời được khi chúng ta hiểu được những thông điệp mà cha ông gửi gắm qua từng họa tiết trang trí, qua từng nhát đục chạm...

Là người từng nghiên cứu rất nhiều di tích trên địa bàn cả nước, xét từ góc độ của một nhà nghiên cứu, ông có thế lý giải tại sao nhiều công trình đã được cấp phép, có thiết kế hẳn hoi nhưng sau đó vẫn bị sai phạm, khiến di tích không còn là chính nó?

- Có mấy vấn đề chính, trước hết là nhận thức còn thấp, trong đó có cả nhận thức của những người đứng ra tu bổ, người ta nắm vấn đề lịch sử - văn hóa gắn với di tích không đầy đủ.

Nhận thức thấp nên hiện nay có một điều nguy hiểm là người ta còn coi thường vấn đề văn hóa mà chỉ đề cao vấn đề phụ là vấn đề tín ngưỡng.

Bên cạnh đó, là sự lầm lẫn chủ quyền. Di tích, di sản là của toàn dân, nhưng không ít người cai quản di tích lầm lẫn đó là nơi của mình, rồi người ta trọng vấn đề kinh tế hơn vấn đề văn hóa. Thế nên mới có chuyện "công đức" làm hỏng di tích, "công đức" để tô vẽ xanh xanh đỏ đỏ tượng Phật mà chẳng hiểu ý nghĩa gì, thậm chí tượng cổ lại cho vào xó bếp để bày lên những pho tượng lòe loẹt "cải lương".

Rất nhiều ngôi chùa, trước đây tôi đến nó rất đẹp, rất có tâm hồn Việt. Nhưng gần đây khi quay lại, tôi thấy nó nhất định không phải Tàu, không phải Tây, và càng nhất định không phải Việt Nam. Tôi nhớ có nhà nghiên cứu đã nói rằng: "Khi đạo mạt thì chính giáo hội là người đào mồ chôn đạo".

Theo như ông nói, nhận thức là vấn đề cốt lõi của bảo tồn. Tuy nhiên, để nâng cao nhận thức của người dân lại là cả một vấn đề...?

- Tổ tiên ta dạy "phi trí bất hung". Ta cứ theo tổ tiên dạy mà làm. Song vấn đề đặt ra hiện nay với chính cán bộ văn hóa là sự lầm lẫn giữa hiểu và biết. Đấy là chưa kể tới những trường hợp thiếu cả hiểu lẫn biết.

Lấy thí dụ như một số cơ quan thực hiện việc bảo tồn di tích, người ta chỉ chú ý đến kiến trúc đơn thuần mà chưa có hiểu văn hóa kiến trúc. Nhìn thấy một viên gạch, một mảng đục chạm, căn cứ vào hoa văn của nó, anh xác định được nó niên đại đời Trần hay đời Lê. Ấy là biết. Nhưng nếu anh giải mã được những gì ẩn đằng sau nó, ấy là hiểu.

Tôi kể với anh một câu chuyện để thấy tầm quan trọng của sự hiểu. Một lần tôi đứng ở một ngôi đình để nói chuyện về chính ngôi đình ấy cho bà con nghe.

Tôi hỏi bà con: "Các cụ có nghe thấy tiếng gì không?". Mọi người im phăng phắc lắng nghe rồi phát biểu là chẳng nghe thấy gì cả. Tôi bảo: "Tôi là người biết chữ, tôi đục lại những lời thì thầm của tổ tiên nhắn lại cho chúng ta. Tôi đang nghe thấy tiếng ầm ì của sấm gọi mây về, nghe thấy tiếng mưa rơi róc rách, nghe thấy âm thanh của cây cối tốt tươi, nghe thấy những lời cầu  nguyện về mưa thuận gió hòa của chính tổ tiên. Những tấm hoành phi câu đối, những con rồng trên xà nhà kia là lời nguyện cầu của tổ tiên các vị về mưa thuận gió hòa, về mùa màng tốt tươi. Con rồng biểu tượng cho sự cầu mưa, thân con rồng uốn khúc như mây, cái đao mác lớn nhất, khỏe nhất được phóng ra từ mắt con rồng của ngôi đình làng các vị, đó tượng trưng cho sấm chớp, nên tôi nghe thấy từ cái đao cái đến đao con đều vang lên tiếng ì ục gọi mưa, gọi mùa, gọi sinh sôi nảy nở...".

Cả mấy trăm người im phăng phắc lắng nghe tôi giải thích về những họa tiết hoa văn, về những hoành phi câu đối của ngôi đình. Nhân dân đều rất phấn khởi.

Tổ tiên cũng dạy "bất tri bất trách", dân mình chưa hiểu thì những người làm công tác văn hóa phải làm cho người ta hiểu. Khi hiểu rồi thì người ta sẽ có trách nhiệm giữ gìn. Ví như ngôi làng nọ, tôi đố anh nào tu bổ khác đi được so với những gì tổ tiên họ làm ra đấy. Để nhân dân hiểu thì trước hết phải nâng cao sự hiểu của những người làm công tác văn hóa, nhất là đội ngũ ở cơ sở.

Có người cho rằng, nên thu hồi Bằng công nhận di tích với những di tích đã bị làm biến dạng, vì khi cấp Bằng công nhận di tích, Nhà nước không cấp cho cái di tích "giá" ấy. Ông cho rằng có nên áp dụng điều đó?

- Tôi cho rằng cũng nên đưa ra vấn đề ấy để nâng cao ý thức của mọi người. Tuy nhiên, biện pháp trước mắt là bắt tháo dỡ nhưng gì được coi là làm mới và xây lại theo nguyên trạng ban đầu.

Trở lại vấn đề chùa Dâu, người ta đã sửa chữa chùa Dâu một cách lén lút, làm một cách chụp giật, tranh thủ lúc nghỉ Tết để đặt cơ quan quản lý văn hóa vào tình trạng đã rồi. Họ đã phá hoại vấn đề lịch sử. Với những công trình có tầm cỡ quốc gia như thế, bắt buộc, tôi nhấn mạnh vấn đề bắt buộc phải tháo dỡ những gì sai trái để việc tu bổ, tôn tạo diễn ra theo đúng ý nghĩa của nó.

Với những công trình "sự đã rồi" thì như vậy, còn trong tương lai, ngoài nâng cao nhận thức nói chung, việc tu bổ, tôn tạo một công trình cụ thể nên được tiến hành như thế nào để tránh những "sự cố" đáng tiếc?

- Tôi không phải nhà quản lý nên không quyết được vấn đề này. Theo sáng kiến của ông Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Cục Di sản văn hóa đang làm thí điểm tu bổ tôn tạo đình làng Chu Quyến (Ba Vì - Hà Tây ) như một chuẩn mực làm mẫu cho các công trình khác.

Bước đi của nó là công khai lập dự án, trước khi tu bổ, công khai nói về giá trị cho mọi người liên quan cùng hiểu. Mà khi đã hiểu, người ta sẽ giữ gìn với thái độ thực sự tôn trọng.

Với ý thức ấy thì từng nhát đục, từng hành vi ứng đối với sản phẩm của tổ tiên đều rất thành kính. Tôi cho rằng bắt buộc các công trình khác cũng đều phải được làm theo quy trình này.

(Theo ĐĐK)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác