Tu bổ, tôn tạo hệ thống Chùa Việt

Việt Nam có một hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh phong phú và đa dạng trải rộng khắp các vùng miền của đất nước. Trong đó hệ thống chùa có thể coi như một mảng tiêu biểu trong hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa quan trọng.

Hãy bắt đầu từ vùng châu thổ sông Hồng  những năm đầu của Công nguyên, đạo Phật đã thâm nhập vào nước ta kèm theo đó là sự phát triển về hệ thống kiến trúc chùa - với những nét hết sức riêng biệt, phong phú thể hiện bản sắc văn hóa rất đặc trưng của một quốc gia giàu truyền thống.

Trước hết phải kể ngay đến Lý Bí, sau khi đánh đuổi quân nhà Lương lên ngôi xưng hiệu là Lý Nam Ðế (năm 544), đã cho xây dựng chùa Khai Quốc, (tiền thân chùa Trấn Quốc Hà Nội ngày nay). Từ sau đó rất nhiều chùa - tháp có quy mô to lớn và những kiến trúc độc đáo được xây dựng như chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Bắc Ninh), chùa Dạm (Quế Võ, Bắc Ninh), chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột, Thăng Long), chùa Phổ Minh (xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Ðịnh), chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Tây), chùa Trăm Gian (tên cũ là chùa Quảng Nghiêm - Hoài Ðức, Hà Tây), chùa Hương Lãng (Văn Lâm, Hưng Yên - năm 1954 đã bị Pháp phá hủy hoàn toàn), chùa Thái Lạc (tên chữ là chùa Pháp Vân - Mỹ Văn, Hưng Yên) chùa Quỳnh Lâm (Ðông Triều, Quảng Ninh), tháp Bình Sơn ở chùa Vĩnh Khánh (tức chùa Then - Lập Trạch, Vĩnh Phú) và nhiều chùa ở nhiều tỉnh khác, v.v.

Nếu nói về kiến trúc thì chùa Phật Tích được coi là ngôi chùa có quy mô vào hàng cỡ thời cổ. Trong khuôn viên chùa có cây Tháp cao ngàn trượng. Trong Tháp có pho tượng Phật vàng cao 6 thước (2,5m). Năm 1937, các nhà khoa học tiến hành đo đạc thì cạnh đáy Tháp là 850m, như vậy Tháp phải cao khoảng 42m. Vua Trần Nhân Tông, ca ngợi ngôi chùa qua bài thơ: Ðại Lãm Thần Quang Tự bằng những câu:

Mười hai lâu đài mở ra như bức họa

Ba nghìn thế giới thu vào tầm mắt rộng muôn trùng.

Ðến nay chùa chỉ còn lại dấu tích khu nền rộng 8 nghìn mét vuông, bậc cấp chính dẫn lên chùa rộng 16m, dài 120m.

Còn chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột - Thăng Long, Hà Nội) thì sao? - Chùa Diên Hựu là một quần thể kiến trúc đồ sộ, hoành tráng. Chùa được hai đời vua Lý bỏ công xây dựng.

Vua Lý Thái Tông cho xây dựng vào tháng 10-1049, đến tháng 9 năm 1105 vua Lý Nhân Tông cho tu bổ lại cho đẹp hơn. Như vậy, ngôi chùa được xây dựng kể như trong hai thế kỷ.

Lúc đầu, kiến trúc của chùa được thể hiện theo hình tòa sen của Phật Bà Quan Âm, đặt trên một cột đá dựng ở giữa đất (gọi là lập trạch trụ vu địa không)...

Cũng vẫn vào thời Nhà Lý, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng cùng với chùa Báo Ân ở Thăng Long một công trình kiến trúc đồ sộ, đó là tháp Báo Thiên có tên chữ là "Ðại thắng Tự Thiên Bảo Tháp".

Tháp Báo Thiên được xây dựng vào năm 1057, sau khi đại thắng quân Tống. Tháp xây lên với ý nghĩa để tạ ơn Trời - Phật. Tháp toạ lạc trên gò cao bên bờ hồ phía Tây Hồ Lục Thủy (Hồ Lục Thủy là tên gọi trước đây của Hồ Gươm, Hà Nội).

Tháp Báo Thiên được xây dựng bằng đá, riêng một số tầng trên và chóp tháp được đúc bằng đồng. Tháp gồm 30 tầng, cao vài chục trượng (khoảng gần 70m). Tháp Báo Thiên tồn tại 325 năm, đến năm 1322 thì bị sét đánh sạt mất một góc phía đông của hai tầng tháp đồng trên cùng. Nhiều sử sách đã ca ngợi về sự to lớn của công trình kiến trúc có một không hai này.

Tháp và chùa Báo Thiên đã tồn tại chín thế kỷ. Ðến năm 1884, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, Pháp đã cho phá tháp và chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep (tức Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay).

Mới điểm qua một số tư liệu lịch sử ta đã thấy rõ những thành tựu về kiến trúc chùa do bàn tay nhân dân ta sáng tạo và xây dựng lên thật là to lớn. Chỉ thật đáng tiếc,  những công trình ấy trải qua chiều dài lịch sử đã phải chịu sự tàn phá của thiên nhiên và chiến tranh khắc nghiệt nên có những ngôi chùa chỉ còn lại trong ký ức. Mặc dù vậy, nếu thống kê thì chùa ở nước ta còn lại nay là con số khá lớn.

Những năm gần đây, công tác bảo tồn di tích đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và của toàn xã hội. Công tác bảo tồn di tích trong đó có hệ thống các ngôi chùa Việt đạt được những thành quả nhất định thật sự tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Phải chăng chúng ta nên xây dựng một kế hoạch chiến lược ở tầm quốc gia để nghiên cứu, tôn tạo, bảo tồn kể cả phục dựng lại những ngôi chùa có giá trị về mặt văn hóa, lịch sử.

Ðiều đáng mừng là công cuộc xã hội hóa tu bổ di tích, đặc biệt là những công trình đình chùa gần đây được người dân ở các địa phương trong cả nước hưởng ứng nhiệt tình. Tuy nhiên những năm qua, có nhiều ngôi chùa được trùng tu bởi lực lượng không chuyên nghiệp và do đó dẫn đến kết quả không được như mong muốn. Có những di tích sau trùng tu lại bị biến dạng và mất mát nhiều hơn về giá trị lịch sử - văn hóa đích thực của nó. Xã hội hóa công tác bảo tồn di tích không có nghĩa ai cũng có thể can thiệp vào di tích. Hơn lúc nào hết cần nâng cao nhận thức xã hội của cộng đồng về ý thức bảo tồn các ngôi chùa cổ cũng như hiểu biết về ý nghĩa giá trị của nó.

Nhiều ngôi chùa cổ ở đất nước ta đang tồn tại cùng với cuộc sống thường nhật của cộng đồng dân cư quanh đó. Các công trình này đang được nhân dân gìn giữ, bảo vệ bởi đó chính cũng là một nhân tố tác động đến đời sống văn hóa - tinh thần của cộng đồng dân cư. Và đó không chỉ là những báu vật và còn là thông điệp của quá khứ gửi lại cho các thế hệ sau.

(Theo ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác