Ðiện ảnh Việt Nam cần một cuộc tập hợp lớn

Một cuộc tập hợp lớn cho điện ảnh Việt Nam, đó là ý tưởng do nhà văn, nhà biên kịch Lê Ngọc Minh, Phó Cục trưởng Cục Ðiện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đề xuất.

Ðiện ảnh Việt Nam cần một cuộc tập hợp lớn - ảnh 1

Ý tưởng ấy ra đời từ tình trạng cụ thể của điện ảnh và từ mối quan hệ của điện ảnh với công chúng trong thời kỳ sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội đã đưa tới nhiều "món ăn tinh thần" ngày càng phong phú. Nhân thành công của Ðại hội lần thứ 7 Hội Ðiện ảnh Việt Nam, chúng tôi giới thiệu bài viết này như một gợi mở...

Ðại hội đại biểu lần thứ 7 của Hội Ðiện ảnh Việt Nam diễn ra trong bối cảnh Luật Ðiện ảnh đã đi vào cuộc sống được gần ba năm theo hướng xã hội hóa cao, luôn có yếu tố năng động. Tuy nhiên nhìn vào thực trạng của lĩnh vực điện ảnh trong thời gian qua thì các yếu tố năng động chưa hội đủ sức mạnh để tạo ra bước ngoặt có tính bứt phá, đủ lực đẩy để đưa "con thuyền" điện ảnh nước nhà vượt qua những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài đến một "hải trình" ổn định và phát triển bền vững.

Như cách nói thông dụng hiện nay thì điện ảnh Việt Nam đã từng có một thời kỳ hoành tráng. Suốt thập niên 1980, năm nào cũng có khoảng 350 triệu lượt khán giả Việt Nam mua vé vào rạp xem phim, tức là gấp ba số lượt khán giả đương đại của điện ảnh Hàn Quốc (khoảng 120 triệu lượt, theo nguồn của Hội đồng điện ảnh Hàn Quốc - KOFIC). Ðó là chưa kể đến hàng trăm triệu lượt khán giả xem phim tại các bãi chiếu bóng lưu động, tại các câu lạc bộ văn hóa của đơn vị, cơ quan và cộng đồng dân cư. Trước khi bước vào cơ chế thị trường, cả nước có hơn một nghìn rạp chiếu bóng và câu lạc bộ có lắp máy chiếu phim ở trung tâm đô thị, hoặc nơi có dân cư đông đúc. Tỉnh có số lượng ít nhất cũng có 3 đến 4 rạp; còn trung bình thì khoảng từ 5 đến 7 rạp; riêng TP Hồ Chí Minh có đến hơn 50 rạp; Thủ đô Hà Nội có gần 20 rạp.

Còn hiện tại cả nước có 107 rạp chiếu phim, trong số này chỉ vài chục rạp đạt tiêu chuẩn rạp chiếu phim hiện đại, trong đó 17 rạp do nước ngoài đầu tư xây dựng hay do tư nhân quản lý. Theo nguồn của FAFIM Việt Nam thì hiện nay, hằng năm có khoảng 12 triệu lượt khán giả vào rạp xem phim, đạt khoảng 0,12 lượt người/năm, đứng vào hàng thấp nhất của khu vực Ðông - Nam Á, và càng thấp so với thế giới (khoảng 1,2 lượt người/năm). Có nhiều cách để lý giải sự sa sút này nhưng các nguyên nhân chính thì dễ nhận ra. Thứ nhất, điện ảnh không còn là loại hình nghệ thuật giữ vị trí độc tôn, là "quan trọng nhất" trong nhu cầu thưởng thức giải trí của khán giả, khi họ đã có nhiều cơ hội để lựa chọn "món ăn tinh thần" từ nhiều loại hình nghệ thuật khác, nhất là từ lượng thông tin hùng hậu của hệ thống MEDIA. Nói cách khác, giờ đây mỗi loại hình nghệ thuật, mỗi lĩnh vực của truyền thông đại chúng đang phải tìm kiếm từng khán giả, độc giả cho mình, và điện ảnh cũng phải chấp nhận quy luật này. Thứ hai, hệ thống rạp chiếu phim của điện ảnh Việt Nam bị xuống cấp, bị chuyển mục đích sử dụng với tốc độ như "xuống dốc không phanh". Hơn 500 rạp chiếu bóng cấp huyện cơ bản đã bị xóa sổ, 30% số tỉnh thành hiện không còn rạp chiếu phim nào. Có thành phố, tỉnh lỵ trước đây có 5 đến 6 rạp chiếu phim như Plây Cu, Thanh Hóa, Ðà Lạt... nay trở thành địa bàn "trắng" về rạp chiếu bóng. Thứ ba, là giá vé ở rạp cao so với thu nhập bình quân của người dân cho nên những người thu nhập trung bình không thể đến rạp. Thứ tư, phim nội địa còn chưa thích hợp với nhu cầu giải trí của số đông khán giả. Thứ năm, phim nước ngoài được phát trên hệ thống truyền hình với thời lượng vô cùng lớn mỗi ngày, cho nên phim Việt Nam như đã "thua ngay trên sân nhà".

Ðiện ảnh Việt Nam cần một cuộc tập hợp lớn - ảnh 2

"Ðầu ra" điện ảnh ở vào hoàn cảnh như thế, thì "đầu vào" cũng lâm vào tình trạng khắc nghiệt không kém. Số phim nhựa được sản xuất trong khoảng từ năm 2005 trở lại đây là khoảng mười phim/năm. Ðây là con số quá ít so với dân số hơn 86 triệu người (trong khi đó ở Trung Quốc là 460 phim/năm, ở Hàn Quốc là 120 phim/năm, ở Liên bang Nga là 200 phim/năm, ở Ma-lai-xi-a là 22 phim/năm, ở Xin-ga-po là mười phim/năm). Phim đã ít, công tác quảng bá cho phim chỉ mới được các hãng tư nhân chăm chút, còn các đơn vị điện ảnh Nhà nước mới chỉ làm lấy lệ. Số tiền Nhà nước đầu tư thường xuyên hằng năm để sản xuất cả ba thể loại phim (truyện, tài liệu - khoa học và hoạt hình) khoảng 15 tỷ đồng, thỉnh thoảng có sự kiện lịch sử, văn hóa, chính trị thì được đặt hàng một vài phim.

Trong điều kiện như vậy, trong năm năm qua, một số bộ phim Việt Nam như Ðừng đốt, Chơi vơi, Hà Nội - Hà Nội, Trăng nơi đáy giếng, Dòng máu anh hùng, Mùa len trâu, Rừng đen, Ký ức Ðiện Biên, Huyền thoại bất tử... lại đoạt một số giải thưởng quốc tế, khu vực và quốc gia, trong đó một số phim đã được chiếu nhiều ở Mỹ, Pháp như Ðừng đốt, Trăng nơi đáy giếng..., có phim thu được mười tỷ đồng tiền bán vé tại các rạp nội địa, thì có thể nói đó là cố gắng rất lớn của những người làm điện ảnh Việt Nam.

Tuy nhiên, cố gắng này mới chỉ là những hiện tượng đơn lẻ chưa hội đủ một khuynh hướng, một làn sóng mà bất cứ nền điện ảnh phát triển nào cũng cần có để cất cánh. Ðáng lo nữa là trong những năm gần đây, số tài năng điện ảnh xuất hiện còn thưa vắng. Trong các thập niên 60, 70, 80, 90 của thế kỷ trước, những nhà làm sử điện ảnh đã tổng kết cứ khoảng 3 đến 4 năm lại có nhiều gương mặt mới xuất hiện. Ðạo diễn tài năng hay không, chỉ làm đến phim nhựa thứ ba là khẳng định. Thập niên đầu của thế kỷ 21, số tài năng mới không phải là không có nhưng chưa thật sự xuất sắc.

Ðể khắc phục thực tế này và xây dựng một nền điện ảnh phát triển - một công nghiệp điện ảnh, ngoài chính sách hỗ trợ của Nhà nước, công việc chính là thuộc về những người làm điện ảnh Việt Nam. Công việc trước hết là phải có một cuộc tập hợp lớn để làm sao có thể xuất hiện một lớp tài năng mới, làm nên những giá trị mới kế tiếp những gì mà thế hệ đàn anh đã làm được trong nửa thế kỷ qua. Với sự giao lưu quốc tế vô cùng lớn, nghệ thuật điện ảnh là nghệ thuật cách tân nhanh nhạy nhất, nếu không đổi mới cách thể hiện, đổi mới cách tiếp cận hiện thực, tiếp cận khán giả thì sẽ khó chấp nhận ngay trong thị trường nội địa chứ đừng nói là hội nhập quốc tế. Cuộc tập hợp lớn này cũng tạo điều kiện để hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, thỏa mãn nhu cầu sáng tạo của nhà làm phim nhằm đưa đến cho khán giả những bộ phim có tầm vóc, được sáng tạo một cách chuyên nghiệp.

Thiết nghĩ, cuộc tập hợp lớn này sẽ là sự đồng cảm và chia sẻ, là điều kiện bộc lộ tài năng, là sự sáng tạo, là sự xuất hiện của các tác giả, các "ngôi sao" độc đáo, có khả năng tạo dấu ấn, biết thẳng thắn chỉ ra khiếm khuyết của những "bán thành phẩm nghệ thuật". Không có cuộc tập hợp này, dễ dẫn đến dè bỉu lẫn nhau khiến các giá trị bị lẫn lộn, thiếu những minh định rạch ròi. Cuộc tập hợp lớn này cũng sẽ tạo ra các khuynh hướng, những dòng chảy sáng tạo từ mạch nguồn tiềm năng là văn hóa dân tộc, là nhân dân dũng cảm thông minh, là nét đẹp tinh tế Việt Nam. Và cuối cùng, cuộc tập hợp lớn này sẽ tạo ra được một thị trường điện ảnh hài hòa, các nhà làm phim, các nhà phổ biến phim tựa đỡ vào nhau để phim Việt Nam đến được với khán giả nhanh nhất, nhiều nhất và thú vị nhất. Vì khán giả là nguồn dinh dưỡng của nghệ thuật. Ðối với nghệ thuật điện ảnh, một nghệ thuật đòi hỏi nhiều vốn liếng và trình độ công nghệ bậc cao thì khán giả lại càng quan trọng hơn. Và với một cuộc tập hợp lớn như thế, nếu không có một ý chí lớn thì không thể làm thay đổi diện mạo điện ảnh nước nhà hiện nay.

 

Phó Cục trưởng Cục Ðiện ảnh Lê Ngọc Minh (nguồn ND)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác