Đề án "Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên tỉnh giai đoạn 2009 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2015": Cần hiểu rõ đặc trưng của cồng chiêng Nam Tây Nguyên

Ngày 9.7.2009, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định 1583/QĐ-UBND phê duyệt đề án "Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2009 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2015".

Đề án

Với quyết định này, vị trí và vai trò của cồng chiêng Nam Tây Nguyên thêm một cơ hội được khẳng định trong đời sống xã hội hiện nay.

Trong kho tàng di sản văn hoá của các thế hệ tộc người Nam Tây Nguyên, cồng chiêng là một dạng "của cải" nổi trội cùng với kho tàng văn học dân gian, nghệ thuật điêu khắc dân gian và tri thức dân gian. Có thể nói, hầu như không có nhạc khí nào và không có nhiều những sinh hoạt văn hoá truyền thống nào có được vai trò như nhạc khí cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên nói chung và Nam Tây Nguyên nói riêng.
Nói cách khác, cồng chiêng của các tộc người thiểu số Tây Nguyên có giá trị là một bằng chứng khá độc đáo về đặc trưng văn hoá truyền thống của cộng đồng người ở đây. Chính vì thế, tuy vùng Đông Nam Á có không ít quốc gia có cồng chiêng, nhưng chỉ có cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam là được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Hiện trong đời sống xã hội các tộc người thiểu số Nam Tây Nguyên vẫn còn cách nói truyền khẩu: "Cuộc đời của con người ta dài theo tiếng chiêng"!
Ngoài những giá trị với tư cách là một bộ phận cấu thành của văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên như vừa nói ở trên, cồng chiêng của các cộng đồng thiểu số Nam Tây Nguyên còn có những giá trị đặc trưng khác cần được xác định rõ để có kế hoạch bảo tồn và phát huy một cách có hiệu quả nhất.
Trước hết: Cồng chiêng Nam Tây Nguyên không thoát ly ra ngoài sự hình thành và phát triển chung của âm nhạc truyền thống các tộc người bản địa Nam Tây Nguyên - những tộc người chủ nhân của các giá trị văn hoá đó. Khi nói đến bộ ching droòng của người Mạ, người Cơ Ho Lâm Đồng thì chúng ta dễ dàng xác định đó là bộ chiêng gồm 6 chiếc, trong đó có một chiếc mang cao độ của nốt không nằm trong hệ thống bình quân luật của âm nhạc phương Tây.
Ngoài ra, dàn chiêng droòng của người Mạ và người Cơ Ho Lâm Đồng cũng chính là "hình ảnh" của nhiều nhạc cụ khác, như mbuốt (khèn bầu 6 ống), đinh điở (đàn lồ ô 6 dây)... Với tộc người Mạ, cồng chiêng không được phép sử dụng trong lễ tang (thay vào đó là giàn "chiêng ma" bằng 6 ống lồ ô được chôn theo người chết) cũng là điều khó gặp trong sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc khác.
Hoặc như: Không kèm theo lời ca khi diễn tấu cồng chiêng cũng là một "hiện tượng văn hoá" khá đặc biệt của nhiều dân tộc thiểu số bản địa Nam Tây Nguyên thuộc ngữ hệ Môn Khmer cần được nhắc đến.
Một đặc trưng về văn hoá cồng chiêng Nam Tây Nguyên khác cũng cần được lưu ý nữa là, bộ chiêng 6 chiếc của các tộc người thuộc ngữ hệ Môn Khmer (Cơ Ho, Mạ...) khi du nhập vào cộng đồng người thuộc ngữ hệ Mã Lai Đa Đảo (Chu Ru, Raglai...) đã có những biến đổi nhất định cho phù hợp với văn hoá của các cộng đồng người Chu Ru, Raglai... chứ không còn nguyên vẹn như bộ ching droòng của người Mạ, người Cơ Ho... Đây chính là hiện tượng của "tính bảo thủ ngoài biên giới" của đời sống văn hoá các cộng đồng người Chu Ru, Raglai... vốn là một bộ phận của người Chăm khi di cư đến vùng đất Nam Tây Nguyên sống cận kề với cộng đồng Môn Khmer.
Như vậy, cũng là cồng chiêng, nhưng cồng chiêng Nam Tây Nguyên không hoàn toàn trùng khớp với cồng chiêng của các cộng đồng người có địa bàn cư trú ở phía bắc Tây Nguyên. Và đây cũng chính là những giá trị đích thực cần được nhấn mạnh của cồng chiêng Nam Tây Nguyên trong quá trình triển khai đề án nói trên của UBND tỉnh Lâm Đồng.

Theo LĐ

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác