Hoạt động điện ảnh phục vụ đồng bào dân tộc và miền núi

So với các thành phố lớn, hoạt động điện ảnh đáp ứng nhu cầu của đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, Nhà nước vẫn luôn chú trọng xây dựng những đề án đẩy mạnh hoạt động điện ảnh phục vụ đồng bào dân tộc và miền núi.

Mới đây nhất, “Cuộc vận động sáng tác kịch bản phim về đề tài dân tộc thiểu số” sau hai năm triển khai đã để lại những dư âm tốt.

Đầu tư cho hoạt động điện ảnh

Hàng năm, Cục Điện ảnh sản xuất khoảng 20 chương trình điện ảnh băng hình phục vụ miền núi và dân tộc thiểu số cho các đội chiếu bóng lưu động của các tỉnh. Đây là các chương trình tổng hợp các chuyên đề gồm tin tức, phóng sự, khuyến nông hướng dẫn nuôi trồng cây, con, phù hợp với điều kiện sinh sống của đồng bào, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, ca nhạc dân tộc.

Đến nay đã có nhiều tỉnh được đầu tư trang thiết bị lồng tiếng dân tộc như: Sơn La, Hoà Bình, Yên Bái, Thái Nguyên, Ninh Thuận, Gia Lai, Kon Tum, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Nghệ An với một số thứ tiếng dân tộc được lồng chủ yếu: Thái, Mông, Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Ê đê, K’ho.

Phim về đề tài miền núi hiện tại chiếm khoảng 10% tổng số phim. Những phim được đánh giá cao như: Thung lũng hoang vắng, Đất nước đứng lên, Đứng giữa đời, Lập nghiệp, Người đợi ở Pờ Sa, Gió thổi qua rừng, Khoả nước sông Quy... phim tài liệu có: Người Lô Lô ở Hà Giang, Bản sắc người Mường, Thang đá ngược ngàn, Thư về bản, Cao nguyên đá...

Theo tinh thần Nghị định 48/CP, Nhà nước cấp 100% kinh phí hoạt động chiếu phim ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn hẻo lánh, hải đảo. Cấp 50% kinh phí cho các vùng nông thôn khác. Hiện cả nước có trên 600 đội chiếu lưu động, bao gồm hai lực lượng điện ảnh phát hành phim của các tỉnh và điện ảnh quân đội.

Chỉ tính riêng ở 38 tỉnh miền núi là tỉnh có số đông đồng bào dân tộc thiểu số, hàng năm có từ 12 đến 14 lượt triệu người xem. Ngân sách TW hỗ trợ điện ảnh miền núi, dân tộc thiểu số hàng năm từ 16 tỷ đến 22 tỷ đồng. Địa phương đầu tư từ 9 đến 14,6 tỷ đồng. Nét nổi bật đáng kể nhất là hoạt động chiếu bóng lưu động với bình quân 6 vạn buổi chiếu/năm.

Cách đây không lâu, Vụ Văn hóa dân tộc (Bộ Văn hóa - Thông tin) đã tổ chức lễ trao giải Cuộc vận động sáng tác kịch bản phim về đề tài dân tộc thiểu số và miền núi. Sau hơn 2 năm phát động, Ban tổ chức đã nhận được 96 kịch bản tham gia, trong đó có 73 kịch bản đạt tiêu chí của cuộc vận động, gồm 45 kịch bản phim truyện, 28 kịch bản phim tài liệu. May mắn thay, có những kịch bản đoạt giải đã nhanh chóng được làm phim như Tiếng hát ru từ miền núi. Kịch bản Mùa Mảy loi thay lá (giải B - tác giả Nguyễn Xuân Hải) cũng đã được đưa vào sản xuất phim truyền hình dài tập. Vậy là sắp tới, không chỉ đồng bào miền núi mà khán giả cả nước sẽ có cơ hội được thưởng thức những tác phẩm điện ảnh nói về cuộc của những người thiểu số và miền núi.

Vẫn còn những hạn chế

Hạn chế của việc sản xuất phim phục vụ đồng bào là vừa thiếu, vừa yếu, vừa chưa phù hợp. Việc tổ chức sản xuất phim ở mảng phim đề tài còn dàn trải, do nhiều nơi hoạt động tự ý mà thiếu chỉ đạo chung. Nhiều xưởng, đài truyền hình địa phương sản xuất trùng lặp đề tài. Mảng đề tài về bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số rất cần thiết nhưng lại thiếu vắng trên màn ảnh. Ông Lại Văn Sinh (Cục trưởng Cục điện ảnh) từng có những đánh giá rất xác đáng về một số bộ phim tài liệu kể về cuộc sống của người dân tộc: “có những bộ phim, người thực hiện còn dàn xếp bối cảnh, đồng bào đang lao động lại mặc lễ phục hoặc lời bình còn to tát, nặng tính chủ quan. Có phim lại lẫn lộn giữa phim khoa học, phim tài liệu và phóng sự”.

Mảng phim kết hợp với khâu lồng tiếng còn yếu nên tạo ra nhiều bức xúc với đồng bào Khmer Nam Bộ, đồng bào Tây Nguyên và một bộ phận của đồng bào vùng Tây Bắc. Trong khi đó một số phim do nước ngoài lồng tiếng, phát hành bằng con đường không chính thức lại có phần phù hợp nên được đồng bào tiếp nhận.

Thường một đội chiếu bóng lưu động được biên chế từ 3 đến 5 người, nhưng phần lớn vẫn chưa đủ biên chế cần thiết. Theo quy định đội chiếu bóng lưu động được trang bị máy chiếu phim nhựa hoặc máy chiếu video 100 inch nhưng hiện nay còn một tỷ lệ đáng kể các đội sử dụng màn hình tivi như ở các gia đình để phục vụ đông người. Có tỉnh số đội chiếu bóng sụt giảm nghiêm trọng như: Bắc Giang, Lạng Sơn... Tính đến nay, tổng số đội chiếu bóng so với thời bao cấp đã sụt 1/3.

Những người trong đội chiếu bóng lưu động hoạt động độc lập. Ngoài chuyên môn nghiệp vụ, họ còn phải biết vận động quần chúng, biết tiếng dân tộc thiểu số, am hiểu tập quán tín ngưỡng của đồng bào. Vất vả là vậy, nhưng dường như chế độ vẫn chưa phù hợp. Nhiều đội chiếu bóng mức kinh phí đầu tư cho xăng xe, đi lại, vận chuyển còn thấp, nên e rằng lòng nhiệt tình của những người tham gia cũng giảm đi ít nhiều.

Chúng ta đã gia nhập WTO, hoà vào nền kinh tế toàn khu vực và thế giới, vậy nên bên cạnh việc tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cách thức phát triển kinh tế, vấn đề bảo vệ bản sắc văn hoá cũng cần được chú trọng. Và điện ảnh chính là bộ môn nghệ thuật có thể phát huy tối đa khả năng lưu giữ những giá trị bản sắc văn hoá dân tộc có nguy cơ bị lấn lướt, phai nhạt...

(Theo CPV)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác